Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2015

Quy định khối lượng bê tông trong cọc khoan nhồi và dầm chủ chữ I

Việc tính toán khối lượng bê tông cọc khoan nhồi theo phương đo bóc công bố tại Quyết định số 788/QĐ-BXD ngày 26/8/2010 là cơ sở cho việc xác định chi phí đầu tư xây dựng công trình và lập bảng tiên lượng mời thầu khi tổ chức lựa chọn nhà thầu. Theo đó, khi xác định khối lượng công tác bê tông cọc khoan nhồi trong tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải trừ các khe co giãn, lỗ rỗng trên bề mặt kết cấu bê tông (ống gien, ống siêu âm...) có thể tích lớn hơn 0,1m3.

Việc thanh toán, quyết toán khối lượng bê tông cọc khoan nhồi nêu tại văn bản số 300/TCT-KDKT ngày 05/10/2015, thực hiện trên cơ sở hợp đồng đã ký kết giữa các bên, không trái hồ sơ mời thầu (đối với công trình đấu thầu); hồ sơ lựa chọn nhà thầu (đối với công trình chỉ định thầu).


Xem thêm dịch vụ thí nghiệm nén tĩnh cọckhảo sát địa hình

Quy định về khảo sát địa chất đối công trình với nhà ở riêng lẻ

Việc khảo sát xây dựng nhằm mục đích lấy số liệu để thiết kế móng công trình xây dựng. Đối với nhà có quy mô từ 3 tầng trở lên hoặc có diện tích sàn lớn hơn 250 m2¬ thì yêu cầu về thiết kế móng công trình phải có số liệu khảo sát địa chất để công trình được ổn định sau khi thi công xây dựng.

Theo Khoản 1, Điều 7: Đối với nhà ở có tổng diện tích sàn xây dựng bằng hoặc nhỏ hơn 250m2, có từ 2 tầng trở xuống... (tôi đã hiểu)

Theo Khoản 2, Điều 7: Đối với nhà ở có tổng diện tích sàn xây dựng lớn hơn 250m2, từ 3 tầng trở lên... (tôi đã hiểu)

Nhưng đối với 2 trường hợp khác thì qui định như thế nào:

1- Đối với nhà ở có tổng diện tích sàn xây dựng bằng hoặc nhỏ hơn 250m2, có từ 3 tầng trở lên?

2- Đối với nhà ở có tổng diện tích sàn xây dựng lớn hơn 250m2, từ 2 tầng trở xuống?

Trong trường hợp qui định phải khoan khảo sát địa chất, nhưng ngôi nhà cần cải tạo không thể tháo dỡ để có mặt bằng tổ chức thi công khoan địa chất thì chúng tôi phải làm thế nào? (vì hồ sơ xin phép xây dựng phải có hồ sơ địa chất kèm theo).


Sau khi nghiên cứu, Cục Giám định Nhà nước về chất lượng công trình xây dựng có ý kiến như sau:

Theo Mục a, Khoản 3, Điều 56, Luật Xây dựng quy định : “Nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích xây dựng sàn lớn hơn 250m2, từ 3 tầng trở lên hoặc nhà ở trong các khu di sản văn hoá, di tích lịch sử - văn hoá thì việc thiết kế phải do tổ chức, cá nhân thiết kế có đủ năng lực hoạt động thiết kế xây dựng hoặc năng lực hành nghề thiết kế xây dựng thực hiện".

Khoản 2, Điều 7, Thông tư số 39/2009/TT-BXD ngày 9/12/2009 của Bộ Xây dựng về việc ban hành Hướng dẫn về quản lý chất lượng xây dựng nhà ở riêng lẻ quy định: “Đối với nhà ở có tổng diện tích sàn xây dựng lớn hơn 250m2, từ 3 tầng trở lên thì chủ nhà phải thuê nhà thầu khảo sát xây dựng có điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 46 và Điều 54, Nghị định 12/2009/NĐ-CP để thực hiện khảo sát xây dựng, trừ khi có được các số liệu khảo sát xây dựng đủ tin cậy do cơ quan có chức năng hoặc có thẩm quyền cung cấp".

Việc khảo sát xây dựng nhằm mục đích lấy số liệu để thiết kế móng công trình xây dựng. Đối với nhà có quy mô từ 3 tầng trở lên hoặc có diện tích sàn lớn hơn 250 m2¬ thì yêu cầu về thiết kế móng công trình phải có số liệu khảo sát địa chất để công trình được ổn định sau khi thi công xây dựng.

Nếu trường hợp nhà đang ở nên không thể khảo sát được thì người thiết kế phải dựa vào số liệu khảo sát lân cận, trong quá trình thi công người thiết kế phải tổ chức theo dõi tình hình địa chất khi mở móng hoặc hạ cọc (nếu có) để quyết định đề án thiết kế móng công trình

Thứ Ba, 1 tháng 12, 2015

Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng

Các vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở, ngoài việc bị phạt tiền còn có thể bị thu hồi, tước quyền sử dụng Giấy phép xây dựng, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và chứng chỉ hành nghề.

Vi phạm trong xây dựng bị phạt tối đa 500 triệu đồng. Chính phủ vừa ban hành Nghị định 23/2009-NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ Trong hoạt động xây dựng, chủ đầu tư có các hành vi như tự thực hiện khảo sát xây dựng khi không đủ điều kiện năng lực, không thực hiện giám sát khảo sát xây dựng hoặc không tổ chức nghiệm thu kết quả khảo sát xây dựng sẽ bị phạt tiền từ 30 đến 40 triệu đồng. xem thiết kế nhà dân dụngthiết kế nhà công nghiệp


Các chủ đầu tư vi phạm về trật tự xây dựng gồm tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng, tổ chức thi công xây dựng sai thiết kế đã được thẩm định, phê duyệt; xây dựng sai quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt đối với công trình xây dựng được miễn Giấy phép xây dựng…sau khi có quyết định đình chỉ thi công của cấp có thẩm quyền mà chủ đầu tư vẫn tái phạm thì tùy theo mức độ vi phạm, quy mô công trình vi phạm, sẽ bị xử phạt từ 300 đến 500 triệu đồng và bị tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng (nếu có). Đối với các nhà thầu, nếu vi phạm một trong những hành vi như nghiệm thu khống, tổ chức bàn giao công trình cho chủ sở hữu, sử dụng công trình khi chưa tổ chức nghiệm thu theo quy định, báo cáo tài liệu, số liệu khảo sát không trung thực, không đúng quy định dẫn tới phải điều chỉnh thiết kế 2 lần trở lên… sẽ bị phạt từ 80 đến 100 triệu đồng.

Trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh bất động sản, hành vi bán, cho thuê mua bất động sản thuộc diện phải qua Sàn giao dịch bất động sản mà không thông qua Sàn giao dịch; kinh doanh các bất động sản không đủ điều kiện hoặc không được phép đưa vào kinh doanh …bị phạt từ 60 đến 70 triệu đồng. Trong lĩnh vực khai thác, sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng, Nghị định quy định phạt tiền từ 40 đến 50 triệu đồng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng không có tiêu chuẩn chất lượng hoặc không đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn đã được công bố; kinh doanh vật liệu xây dựng nhập khẩu không có xuất xứ.
Về quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật, các tổ chức, cá nhân xây dựng các loại công trình trên bờ, trên mặt nước, dưới mặt nước trong khu vực bảo vệ an toàn nguồn nước mặt, bị phạt từ 30 đến 50 triệu đồng; tự ý đục tuyến ống nước thô hoặc đường ống truyền tải nước, bị phạt từ 60 đến 70 triệu đồng.

Trong quản lý phát triển nhà ở và công sở, các chủ đầu tư không dành quỹ đất trong dự án phát triển nhà ở thương mại để xây dựng nhà ở xã hội theo quy định, không đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng xã hội và hạ tầng kỹ thuật theo đúng dự án đã được phê duyệt… sẽ bị phạt từ 40 đến 50 triệu đồng. Ngoài việc áp dụng các hình thức phạt tiền, phạt bổ sung và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định, một số hành vi vi phạm còn phải được công bố trên Trang tin điện tử của Bộ Xây dựng và của UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Xem thêm khảo sát địa hình

Khảo Sát Địa Chất công trình là gì?


Là công tác nghiên cứu, đánh giá điều kiện địa chất công trình tại địa điểm xây dựng nhằm xác định cấu trúc nền đất, tính chất cơ lý của các lớp đất nền, điều kiện nước dưới đất và các tai biến địa chất phục vụ cho công tác quy hoạch, thiết kế và xử lý nền móng…. Các dạng công tác chính trong khảo sát địa chất công trình bao gồm: khoan, đào, xuyên tĩnh, xuyên động, địa vật lý, nén tĩnh, nén ngang, cắt cánh….

Các công trình trước khi thiết kế kỹ thuật nên có hồ sơ khảo sát địa chất công trình. Sau đây là một số vấn đề cơ bản nhất về khảo sát địa chất công trình.

I. TÌM HIỂU VỀ KHẢO SÁT ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH :

1. Khảo sát địa chất công trình là gì?

Là công tác nghiên cứu, đánh giá điều kiện địa chất công trình tại địa điểm xây dựng nhằm xác định cấu trúc nền đất, tính chất cơ lý của các lớp đất nền, điều kiện nước dưới đất và các tai biến địa chất phục vụ cho công tác quy hoạch, thiết kế và xử lý nền móng…. Các dạng công tác chính trong khảo sát địa chất công trình bao gồm: khoan, đào, xuyên tĩnh, xuyên động, địa vật lý, nén tĩnh, nén ngang, cắt cánh….
Khoan địa chất


2. Khảo sát địa chất công trình khi nào?

Công tác khảo sát địa chất công trình thường được tiến hành trước khi thiết kế nền móng công trình. Khảo sát địa chất công trình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi thiết kế xây dựng công trình ở những nơi có điều kiện địa chất phức tạp, thiết kế xây dựng nhà cao tầng, công trình ngầm. . .

3. Khảo sát địa chất công trình ở đâu?

Khảo sát địa chất được thực hiện trên khoảnh đất dự kiến xây dựng công trình, tại nơi bố trí các công trình quan trọng, nơi đặt móng nhà, đài nước. .. .

4. Tại sao phải khảo sát công trình?

Khảo sát địa chất công trình cung cấp các thông tin nhằm:

Đánh giá mức độ thích hợp của địa điểm và môi trường đối với các công trình dự kiến xây dựng.
Thiết kế, lựa chọn giải pháp móng cho công trình dự kiến xây dựng một cách hợp lý và tiết kiệm.
Đề xuất biện pháp thi công hữu hiệu nhất, thấy trước và dự đoán được những khó khăn, trở ngại có thể nảy sinh trong thời gian xây dựng.
Xác định các biến đổi của môi trường địa chất do hoạt động kinh tế – công trình của con người, cũng như ảnh hưởng của các biến đổi đó đối với bản thân công trình và công trình lân cận.
Khoan khảo sát

II. TIẾN HÀNH VIỆC KHẢO SÁT ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH :

Đối với những công trình cao tầng, có tầng hầm trên nền đất yếu công tác khoan khảo sát địa chất công trình là rất quan trọng, không thể xem thường như cách làm từ trước đến nay, vì vậy các chủ đầu tư nên đặt vấn đề ngay từ đầu cho nhà tư vấn là phải thực hiện tốt các công tác sau :

Tư vấn thiết kế phải lập được nhiệm vụ khảo sát địa chất công trình một cách hoàn hảo, không để thiếu sót những chi tiết phục vụ cho công tác thiết kế kỹ thuật sau này. Đơn vị thiết kế phải quyết định mật độ và chiều sâu khoan phù hợp với yêu cầu kỹ thuật,các công tác cần phải thí nghiệm, điều này đòi hỏi đơn vị tư vấn thiết kế phải có kinh nghiệm thiết kế nhà cao tầng.
Đơn vị thi công công tác khoan khảo sát có thể lập được một đề cương có phương án khảo sát kỹ thuật thật chi tiết có đầy đủ số liệu để cung cấp cho thiết kế kỹ thuật sau này.
Đơn vị tư vấn giám sát phải có kinh nghiệm giám sát công tác khảo sát địa chất cho nhà cao tầng : Giám sát tại phòng thí nghiệm, giám sát tại hiện trường thường xuyên và liên tục, phải đánh giá được lịch sử hình thành địa chất tại địa điểm xây dựng, quan sát và nhận định được sự ảnh hưởng của công trình đến các công trình lân cận và sự tác động đến môi trường xung quanh.

1. Khảo sát địa chất:

Xác định tọa độ, cao độ các mốc ranh khu đất theo vị trí do Chủ đâu tư chỉ dẫn;
Đo cao độ hiện trạng, địa hình, địa vật trong phạm vi khu đất;
Lập bản đồ hiện trạng cao độ tỷ lệ 1/500;
Xác định vị trí, cao độ tim đường hiện hữu tại khu vực liên quan;
Khảo sát các hệ thống hạ trầng kỹ thuật, các điểm đấu nối cấp nước, thoát nước mưa, nước thải, cấp điện.

2. Các số liệu khảo sát địa chất:

Các số liệu khảo sát địa chất đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thiết kế và liên quan trực tiếp đến độ ổn định, tính bền vững cũng như kinh phí đầu tư xây dựng công trình.

Các nội dung chính của công tác khảo sát địa chất bao gồm:

Khoan các hố khảo sát để lấy mẫu;
Lấy mẫu thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của đất (cứ 2m đất một mẫu);
Thử nghiệm các thông số SPT tại hiện trường (2m/điểm);
Thí nghiệm mẫu nước ngầm trong đất (1 mẫu);
Lập bản vẽ mặt cắt và hồ sơ báo cáo địa chất công trình.

3. Khảo sát địa chất công trình cung cấp các thông tin nhằm:

Đánh giá mức độ thích hợp của địa điểm và môi trường đối với các công trình dự kiến xây dựng.
Thiết kế, lựa chọn giải pháp móng cho công trình dự kiến xây dựng một cách hợp lý và tiết kiệm.
Đề xuất biện pháp thi công hữu hiệu nhất, thấy trước và dự đoán được những khó khăn, trở ngại có thể nảy sinh trong thời gian xây dựng.
Xác định các biến đổi của môi trường địa chất do hoạt động kinh tế - công trình của con người, cũng như ảnh hưởng của các biến đổi đó đối với bản thân công trình và công trình lân cận.
Đánh giá mức độ an toàn của các công trình đang tồn tại, thiết kế cải tạo nâng cấp công trình hiện có và nghiên cứu những trường hợp đã xảy ra gây hư hỏng công trình.

4. Quy trình Khoan khảo sát địa chất :

Nhà thiết kế hoặc chủ công trình cung cấp các thông tin:

Diện tích khuôn viên, quy mô, kết cấu, tải trọng công trình, giải pháp móng dự kiến cho bộ phận khảo sát địa chất công trình.
Bộ phận khảo sát kết hợp với nhà thiết kế hoặc chủ công trình xác định khối lượng, vị trí và chiều sâu thăm dò.
Tiến hành khoan thăm dò, lấy mẫu đất đá tại các vị trí đã xác định, bảo quản và vận chuyển mẫu về phòng thí nghiệm.
Tiến hành phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm.
Lập báo cáo khoan khảo sát địa chất kỹ thuật, đề xuất một số vấn đề liên quan.
Cung cấp các số liệu cần thiết cho nhà thiết kế để tính toán, lựa chọn giải pháp móng phù hợp với điều kiện địa chất công trình nhằm bảo đảm ổn định công trình và đạt hiệu quả kinh tế.

Xem thêm dịch vụ thiết kế nhà dân dụngthiết kế nhà công nghiệp

Một số phương pháp thi công ép cọc

Phương pháp dùng lực ép tác dụng từ đỉnh cọc để ấn cọc xuống nền địa chất. Ưu điểm của phương pháp này đó là toàn bộ lực ép do kích thủy lực tạo ra được truyền trực tiếp lên đầu cọc chuyển thành hiệu quả ép. Khi ép qua các lớp đất có ma sát nội tương đối cao như á cát, sét dẻo cứng… lực ép có thể thắng lực cản do ma sát để hạ cọc xuống sâu dễ dàng.

Ép cọc thường dùng 2 phương pháp: ép đỉnh và ép ôm, cụ thể như sau: thí nghiệm nén tĩnh cọc

1. Ép đỉnh

Là phương pháp dùng lực ép tác dụng từ đỉnh cọc để ấn cọc xuống nền địa chất. Ưu điểm của phương pháp này đó là toàn bộ lực ép do kích thủy lực tạo ra được truyền trực tiếp lên đầu cọc chuyển thành hiệu quả ép. Khi ép qua các lớp đất có ma sát nội tương đối cao như á cát, sét dẻo cứng… lực ép có thể thắng lực cản do ma sát để hạ cọc xuống sâu dễ dàng. Tuy nhiên, cần phải có hai hệ khung giá: hệ khung giá cố định và hệ khung giá di động, với chiều cao tổng cộng của hai hệ khung giá này phải lớn hơn chiều dài một đoạn cọc: nếu 1 đoạn cọc dài 6m thì khung giá phải từ 7 – 8m mới có thể ép được cọc. Vì vậy khi thiết kế cọc ép, chiều dài một đoạn cọc phải khống chế bởi chiều cao giá ép trong khoảng 6 – 8m.


2.Ép ôm

Là phương pháp dùng lực ép tác dụng từ hai bên hông cọc do chấu ma sát tạo nên để ép cọc xuống. Ưu điểm của phương pháp này nằm ở chỗ do ép từ 2 bên hông của cọc, máy ép không cần phải có hệ khung giá di động, chiều dài đoạn cọc ép có thể dài hơn. Nhưng vì ép cọc từ hai bên hông cọc thông qua 2 chấu ma sát nên khi ép qua các lớp ma sát có nội ma sát tương đối cao như á sét, sét dẻo cứng… lực ép hông thường không thể thắng được lực cản do ma sát tăng để hạ cọc xuống sâu. Nói chung, phương pháp này không được sử dụng rộng rãi bằng phương pháp ép đỉnh.

3. Các bộ phận của máy ép cọc (ép đỉnh)

Về đối trọng, trạm bơm thủy lực gồm có: Động cơ điện, bơm thủy lực ngăn kéo, ống tuy-ô thủy lực và giác thủy lực.

Dàn máy ép cọc gồm có: khung dẫn với giá xi lanh, khung dẫn là một lồng thép được hàn thành khung bởi các thanh thép góc và tấm thép dày. Bộ dàn hở 2 đầu để cọc có thể đi từ trên xuống dưới. Khung dẫn gắn với động cơ của xi-lanh, khung dẫn có thể lên xuống theo trục hành trình của xi-lanh.
Dàn máy có thể di chuyển nhờ chỗ lỗ bắt các bulông

Bệ máy ép cọc gồm 2 thanh thép hình chữ I loại lớn liên kết với dàn máy ứng với khoảng cách hai hàng cọc để có thể đứng tại 1 vị trí ép được nhiều cọc mà không cần phải di chuyển bệ máy. Có thể ép một lúc nhiều cọc bằng cách nối bulông đẩy dàn máy sang vị trí ép cọc khác bố trí trong cùng một hàng cọc.

Máy ép cọc cần có lực ép P gồm 2 kích thuỷ lực mỗi kích có Pmax = P/2 (T)

4. Nguyên lý làm việc

Dàn máy được lắp ráp với bệ máy bằng 2 chốt như vậy có thể di chuyển ép một số cọc khi bệ máy cố định tại một chỗ, giảm số lần cẩu đối trọng.

Ống thả cọc được 2 xilanh nâng lên hạ xuống, năng lượng thủy lực truyền đi từ trạm bơm qua xilanh qua ống thả cọc và qua gối đầu cọc truyền sang cọc, với đối trọng năng lượng sẽ biến thành lực dọc trục ép cọc xuống đất.

5. Tiến hành ép cọc
Chuẩn bị mặt bằng thi công và cọc

Việc bố trí mặt bằng thi công ép cọc ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công nhanh hay chậm của công trình. Việc bố trí mặt bằng thi công phải hợp lý để các công việc không bị chồng chéo, cản trở lẫn nhau, giúp đẩy nhanh tiến độ thi công, rút ngắn thời gian thực hiện công trình. Cọc phải được bố trí trên mặt bằng sao cho thuận lợi cho việc thi công mà vẫn không cản trở máy móc thi công. Vị trí các cọc phải được đánh dấu sẵn trên mặt bằng bằng các cột mốc chắc chắn, dễ nhìn.
Công tác chuẩn bị ép cọc

Cọc ép sau nên thời điểm bắt đầu ép cọc tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa thiết kế chủ công trình và người thi công ép cọc. Vận chuyển và lắp ráp thiết bị ép cọc vào vị trí ép đảm bảo an toàn. Chỉnh máy để các đường trục của khung máy, đường trục kích và đường trục của cọc đứng thẳng và nằm trong một mặt phẳng, mặt phẳng này phải vuông góc với mặt phẳng chuẩn nằm ngang (mặt phẳng chuẩn đài móng). Độ nghiêng của nó không quá 5%. Kiểm tra 2 móc cẩu của dàn máy thật cẩn thận kiểm tra 2 chốt ngang liên kết dầm máy và lắp dàn lên bệ máy bằng 2 máy. Khi cẩu đối trọng, dàn phải được kê thật phẳng, không nghiêng lệch, kiểm tra các chốt vít thật an toàn.

Khi tiến hành, lần lượt cẩu các đối trọng lên dầm khung sao cho mặt phẳng chứa trọng tâm 2 đối trọng trùng với trọng tâm ống thả cọc. Trong trường hợp đối trọng đặt ngoài dầm thì phải kê chắc chắn. Dùng cẩu tự hành cẩu trạm bơm đến gần dàn máy, nối các giắc thuỷ lực vào giắc trạm bơm, bắt đầu cho máy hoạt động. Chạy thử máy ép để kiểm tra độ ổn định của thiết bị (chạy không tải và có tải). Kiểm tra cọc và vận chuyển cọc vào vị trí cọc trước khi ép
Kiểm tra các chi tiết nối cọc và máy hàn

Trước khi ép cọc đại trà, phải tiến hành ép để làm thí nghiệm nén tĩnh cọc tại những điểm có điều kiện địa chất tiêu biểu nhằm lựa chọn đúng đắn loại cọc, thiết bị thi công và điều chỉnh đồ án thiết kế, số lượng cần kiểm tra với thí nghiệm nén tĩnh là 1% tổng số cọc ép nhưng không ít hơn 3 cọc.
Chuẩn bị tài liệu

Phải kiểm tra để loại bỏ các cọc không đạt yêu cầu kỹ thuật. Phải có đầy đủ các bản báo cáo khảo sát địa chất công trình, biểu đồ xuyên tĩnh, bản đồ các công trình ngầm. Có bản vẽ mặt bằng bố trí lưới cọc trong khi thi công, có phiếu kiểm nghiệm cấp phối, tính chất cơ lý của thép và bê tông cọc, biên bản kiểm tra cọc và hồ sơ thiết bị sử dụng ép cọc.
Lắp đoạn cọc đầu tiên

Đoạn cọc đầu tiên phải được lắp chính xác, phải cân chỉnh để trục của C1 trùng với đường trục của kích và đi qua điểm định vị cọc độ sai lệch không quá 1cm. Đầu trên của cọc được gắn vào thanh định hướng của khung máy. Nếu đoạn cọc C1 bị nghiêng sẽ dẫn đến hậu quả của toàn bộ cọc bị nghiêng.

Khi đáy kích (hoặc đỉnh pittong) tiếp xúc với đỉnh cọc thì điều chỉnh van tăng dần áp lực, những giây đầu tiên áp lực dầu tăng dần đều, đoạn cọc C1 cắm sâu dần vào đất với vận tốc xuyên ≤ 1m/s. Trong quá trình ép dùng 2 máy kinh vĩ đặt vuông góc với nhau để kiểm tra độ thẳng đứng của cọc lúc xuyên xuống. Nếu xác định cọc nghiêng thì dừng lại để điều chỉnh ngay. Khi đầu cọc C1 cách mặt đất 0,3 – 0,5m thì tiến hành lắp đoạn cọc C2, kiểm tra về mặt 2 đầu cọc C2 sửa chữa sao cho thật phẳng. Kiểm tra các chi tiết nối cọc và máy hàn. Lắp đoạn cọc C2 vào vị trí ép, căn chỉnh để đường trục cọc C2 trùng với trục kích và trục đoạn cọc C1, độ nghiêng ≤ 1%. Tác động lên cọc C2 một lực tạo tiếp xúc sao cho áp lực ở mặt tiếp xúc khoảng 3 – 4kg/cm2 rồi mới tiến hành nối 2 đoạn cọc theo thiết kế. Làm tương tự với các đoạn cọc sau.
Kết thúc công việc ép cọc

Cọc được coi là ép xong khi thoả mãn 2 điều kiện: Chiều dài cọc đã ép vào đất nền trong khoảng Lmin <= Lc <= Lmax .

Trong đó: Lmin , Lmax là chiều dài ngắn nhất và dài nhất của cọc được thiết kế dự báo theo tình hình biến động của nền đất trong khu vực. Lc là chiều dài cọc đã hạ vào trong đất so với cốt thiết kế.

Lực ép trước khi dừng trong khoảng (Pep) min <= (Pep)KT <= (Pep)max

Trong đó: (Pep) min là lực ép nhỏ nhất do thiết kế quy định, (Pep)max là lực ép lớn nhất do thiết kế quy định, (Pep)KT là lực ép tại thời điểm kết thúc ép cọc, trị số này được duy trì với vận tốc xuyên không quá 1cm/s trên chiều sâu không ít hơn ba lần đường kính (hoặc cạnh) cọc. Trường hợp không đạt 2 điều kiện trên người thi công phải báo cho chủ công trình và thiết kế để sử lý kịp thời khi cần thiết, làm khảo sát đất bổ sung, làm thí nghiệm kiểm tra để có cơ sở lý luận sử lý.

Tại CMC, với hệ thống dàn ép thủy lực tải trọng lên đến 400 tấn cùng đội ngũ kỹ thuật viên kinh nghiệm, chúng tôi sẽ cung cấp một quy trình ép cọc bê tông cốt thép chuyên nghiệp từ khâu khảo sát đến thi công và nghiệm thu. Đảm bảo công trình của quý khách có một nền móng vững chắc.

Xem thêm dịch vụ khoan địa chất

Một số sai sót trong việc khoan khảo sát địa chất để thi công

Cung cấp số liệu về các tính chất cơ lí của đất không chính xác, người thiết kế dựa vào đó để tính toán nền móng và lập phương án thi công không thích hợp với điều kiện thực tế của đất nền, vì vậy rất dễ dẫn đến sai lầm về mặt kỹ thuật và tổn thất về mặt kinh tế do phải thay đổi phương án bởi không an toàn, hoặc lãng phí bởi quá an toàn không cần thiết.

Phần lớn những hư hỏng nền móng công trình đều có nguyên nhân do không có đủ thông tin hoặc thông tin không chính xác về điều kiện địa chất công trình và địa chất thủy văn. Những vấn đề tồn tại chủ yếu ở đây thường là:
Cung cấp số liệu về các tính chất cơ lí của đất không chính xác, người thiết kế dựa vào đó để tính toán nền móng và lập phương án thi công không thích hợp với điều kiện thực tế của đất nền, vì vậy rất dễ dẫn đến sai lầm về mặt kỹ thuật và tổn thất về mặt kinh tế do phải thay đổi phương án bởi không an toàn, hoặc lãng phí bởi quá an toàn không cần thiết.



Cũng có thể báo cáo khảo sát địa chất thì đầy đủ nhưng các kết quả khảo sát thí nghiệm lại không được đánh giá đúng mức, hoặc có khi người kỹ sư thiết kế và người thi công không hiểu rõ một cách đầy đủ tình hình đất nền. Thực tế đã có trường hợp thiếu sự phối hợp giữa người khảo sát địa chất và người thi công. Điều quan trọng là người kỹ sư thiết kế và người thi công phải được biết tất cả kết quả thí nghiệm về đất nền và đặc biệt là tính chất và độ dày khác nhau của lớp đất phía dưới; ngược lại, cũng phải thông báo cho người khảo sát và thí nghiệm đất nền (thí nghiệm cơ học đất) biết rõ tính chất của công trình sẽ xây dựng và các yêu cầu về nền móng.

- Khoảng cách khảo sát giữa các lỗ khoan quá lớn nên không thể phản ánh chính xác tình hình thực tế của các lớp đất về thế nằm và vị trí của nó trong nền đất. Do vậy, mà các hang hốc nhỏ hoặc các thấu kính đất yếu không được phát hiện trong mạng lưới khoan không thích hợp nói trên. Việc bỏ sót các hang động (trong đá có các-tơ) hoặc các thấu kính đất yếu sẽ dẫn đến sự biến dạng lún không đều, lún lớn hoặc dẫn đến nhầm lẫn trong việc dùng giải pháp móng không thích ứng như chọn chiều dài cọc không đúng, đặt vị trí khe lún không phải tại nơi có biến đổi chiều dày và tính chất đất nền…

- Độ sâu lỗ khoan khảo sát địa chất không đủ nên không thể xác định được chiều dày các lớp đất nằm trong phạm vi ảnh hưởng của móng và nhất là không xác định được lớp đất chịu lực mà công trình đặt vào lớp đó. Điều này dễ dẫn đến sự lựa chọn giải pháp móng không đủ căn cứ hoặc độ tin cậy thấp mà hậu quả của nó sẽ rất khó lường về mặt kỹ thuật lẫn kinh tế.

-Báo cáo kết quả khảo sát địa chất công trình và thí nghiệm không rõ ràng chuẩn xác. Nguồn tư liệu thường hay sai sót nữa là các số liệu về nước ngầm, đặc biệt là sai lầm về dòng chảy và thẩm thấu nước mặt thay đổi. Khi khảo sát địa hình cần khảo sát cả về khả năng thay đổi dòng chảy của nước mặt trong các vùng thực vật khác nhau; phải chú ý khả năng thẩm thấu nước mặt của đất liền xung quanh và ảnh hưởng của tải trọng công trình bên cạnh. Tất cả những điều vừa nói có thể gây chuyển động và trượt bề mặt.

- Nhiều trường hợp không thể lường trước khả năng xảy ra sự cố cho những công trình đã đưa vào sử dụng do các nguyên đất nền bị nhão, thẩm lậu, bị ngập lụt, thay đổi tính chất cơ lí của đất do chịu tác động của chấn động, mực nước ngầm bị dâng cao hoặc hạ thấp, thay đổi lớn về nhiệt độ, ảnh hưởng sinh vật học và hóa học hoặc do tổng hợp các nguyên nhân trên cùng các hiện tượng khác nữa. Những điều này có liên quan đến công tác khai thác và bảo trì công trình cũng như giữ gìn môi trường địa chất không bị biến đổi bất lợi cho công trình.

Khảo sát địa chất một cách khoa học tham khảo cách sau :

- Ở giai đoạn 1: Định vị công trình, địa hình, xếp loại tính chất công trình và sưu tầm các dữ liệu về đất nền đã lưu trữ được, đánh giá dữ liệu đã có so với yêu cầu của công trình dự định xây dựng. Nếu thấy đầy đủ thì chuyển cho thiết kế .

- Ở giai đoạn 2: Khi cần khảo sát thì chỉ nhằm xác định vị trí lỗ khoan ở một số hạng mục công trình rồi thiết kế tạm nên còn gọi là giai đoạn nghiên cứu khả thi.

- Ở giai đoạn 3: Đánh giá, so sánh phương án, khảo sát kĩ hơn để phân lớp và thiết kế sơ bộ.

- Ở giai đoạn 4: Xác định các thông số của đất ở hiện trường và phòng thí nghiệm để có đầy đủ tài liệu phục vụ cho việc thiết kế cuối cùng.

Hậu quả của những sai sót trong khảo sát đất nền cũng như trong việc quản lý môi trường địa chất thường dẫn đến những thiệt hại kinh tế rất đáng kể. Để hạn chế hoặc khắc phục nó (cũng có khi không thể khắc phục được), cần có những luật pháp về khai thác và bảo vệ môi trường địa chất chặt chẽ. Điều này sẽ lần lượt làm tỏ bằng một số ví dụ được trình bày trong các chương sau.

Trong bảng trình bày một số trường hợp gây lún không đều cho công trình cần được chú ý khi khảo sát đất nền để phát hiện trước khi thiết kế cũng như trong việc tìm nguyên nhân hư hỏng khi tìm biện pháp sửa chữa. xem thêm dịch vụ khảo sát địa hình

Bảng một số điều kiện đất nền có thể gây lún không đều

1

Có lớp đất yếu ở đầu công trình: Nếu mỏng thì nạo vét rồi thay bằng lớp đất khác tốt hơn; nếu dày thì dùng giải pháp móng khác nhau như khe lún để cắt công trình ra thành các đơn nguyên độc lập, hoặc dùng cọc xuyên qua lớp đất yếu và cùng chống lên lớp đất tốt cho cả 2 phần công trình.


2

Có thấu kính đất yếu nằm dưới móng: Tùy công trình bên trên mà gia cường độ cứng của kết cấu hoặc chọn giải pháp móng thích hợp kể cả dùng cọc xuyên qua thấu kính, cần chú ý đến ảnh hưởng của ma sát âm lên cọc.


3

Lớp đất yếu có chiều dày không đều ở dưới móng công trình. Nguy cơ gây lún không đều là hết sức hiển nhiên nếu công trình bên trên có kích thước mặt bằng lớn. Để phòng tránh cần kết hợp việc tổ chức hợp lý kết cấu bên trên (chia thành từng khối độc lập, tăng cường độ cứng…), với nền móng bên dưới, phương án cải tạo đất (thay đất, cố kết trước, dùng hệ thống cọc mềm như cọc đất xi măng…) để xử lý nền hoặc dùng móng cọc nếu chiều dày lớp đất yếu thay đổi mạnh.


4

Sự phân bố không đều về độ chặt (khi là nền đất đắp) hoặc có các đá tảng, rác xây dựng. San ủi cải tạo bằng lu lèn tĩnh hoặc đầm nện bằng tải trọng động, có khi phải dùng cọc khoan nhồi…


5

Nền đất đắp trên đất có tính nén co lớn hoặc trên đất dốc. Trường hợp này thường gặp trong việc xây dựng ở vùng đồi núi có thung lũng đất yếu hoặc ở vùng lấn sông biển, vùng mở rộng khu công nghiệp có công nghệ san nền từ đầu cho mục đích sử dụng làm nền tự nhiên (bằng lu lèn, đầm nện, cố kết động) hoặc phải cải tạo đất, như phương pháp cố kết trước bằng cọc cát, giếng cát, bằng thoát nước, đối với công trình có tải trọng lớn phải dùng cọc xuyên qua lớp đất đắp, chú ý trượt theo mái dốc hoặc trượt cục bộ cả móng và công trình, bảo vệ đất nền bằng việc thu và thoát nước mặt, tránh thấm ngập…


Những nhiệm vụ khảo sát địa chất công trình nhà cao tầng

Công tác khảo sát địa kỹ thuật được tiến hành nhằm cung cấp số liệu phục vụ lập dự án đầu tư, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công. Công tác khảo sát phải đảm bảo phản ánh đầy đủ về các lớp địa tầng (vị trí, chiều dày, và các đặc tính kỹ thuật cần thiết), về tình hình nước ngầm (vị trí mực nước và các đặc tính liên quan đến nước ngầm).

Công tác khảo sát địa kỹ thuật được tiến hành nhằm cung cấp số liệu phục vụ lập dự án đầu tư
1. MỤC ĐÍCH KHẢO SÁT:
Công tác khảo sát địa kỹ thuật được tiến hành nhằm cung cấp số liệu phục vụ lập dự án đầu tư, thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công. Công tác khảo sát phải đảm bảo phản ánh đầy đủ về các lớp địa tầng (vị trí, chiều dày, và các đặc tính kỹ thuật cần thiết), về tình hình nước ngầm (vị trí mực nước và các đặc tính liên quan đến nước ngầm). Số liệu thu thập phải đảm bảo đầy đủ phục vụ các công việc thiết kế công trình. Kết quả khảo sát cần chỉ ra lớp đặt nền móng và cọc hợp lý cho công trình…v…v.

2. PHƯƠNG PHÁP KHẢO SÁT:

Trình tự tiến hành công việc:
+ Sau khi nhiệm vụ khảo sát được chủ đầu tư phê duyệt, lập phương án khảo sát theo đúng quy định của Luật Xây dựng, trình Chủ đầu tư phê duyệt.
+ Làm các công tác chuẩn bị, xác định vị trí điểm khoan khảo sát tại thực địa.
+ Lắp máy, dựng tháp khoan và vận chuyển máy, trang thiết bị đến vị trí điểm khoan.
+ Khoan địa chất công trình, thí nghiệm hiện trường, lấy mẫu.
+ Kết thúc hố khoan, đo mực nước ngầm và tiến hành nghiệm thu.
+ Lấp hố khoan và vận chuyển máy, trang thiết bị rời điểm khoan.
+ Thí nghiệm mẫu đất, đá, nước.
+ Tổng hợp số liệu, lập báo cáo kết quả khảo sát.

3. THÍ NGHIỆM TẠI HIỆN TRƯỜNG

3.1 Công tác khoan
+ Công tác định vị khoan: bằng máy toàn đạc điện tử kết hợp với thước thép.
+ Công tác khoan khảo sát: Khoan máy, phương pháp khoan xoay bơm rửa hiệp khoan 0.50m, có hạ chèn kết hợp lấy mẫu thí nghiệm và thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT) trong hố khoan. Sử dụng dung dịch bentonite để giữ thành hố khoan. Các hố khoan cần thực hiện chống ống vách để theo dõi mực nước ngầm xuất lộ trong địa tầng hố khoan.
+ Theo dõi mực nước ổn định trong lỗ khoan sau khi thi công 24 giờ.

3.2 Công tác lấy mẫu nguyên dạng
+ Công tác lấy mẫu phục vụ thí nghiệm trong phòng: Trong quá trình khoan dự kiến 2.0m lấy một mẫu đất/đá. Trước khi lấy mẫu cần làm sạch đáy lỗ khoan. Mẫu được lấy bằng phương pháp đóng tạ vào ống mẫu thành mỏng D=76mm dài 600mm. Mẫu được ghi nhãn, bọc pha ra phin chuyển về phòng thí nghiệm theo đúng các quy trình quy phạm hiện hành.
+ Trong trường hợp mẫu đất không lấy được nguyên dạng thì có thể lấy mẫu đất không nguyên dạng.

3.3 Công tác thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT
+ Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT) dự kiến 1.5m một lần thí nghiệm. Mỗi lần thí nghiệm với chiều sâu 45 cm và ghi lại số búa của 15cm một. Giá trị tính toán sẽ được lấy với số búa (N30) của 30cm sau cùng.

3.4 Thí nghiệm đo địa chấn trong hố khoan
+ Dùng máy móc chuyên dụng xác định tình trạng địa chất và độ ổn định của vết nứt gãy nếu có.
+ Thí nghiệm đo vận tốc sóng dọc và ngang (phục vụ cho việc xác định mô đun biến dạng, mô đun chống cắt, hệ số poát-xông, phân loại đất nền trong tính toán kháng chấn) dự kiến cứ mỗi một mét độ sâu hố thí nghiệm một điểm.

3.5 Thí nghiệm giếng quan trắc mực nước ngầm
+ Lắp đặt giếng quan trắc bằng ống nhựa PVC D49mm tại tất cả các hố khoan nhằm đo mực nước tĩnh và đo áp lực nước theo độ sâu.
+ Các giếng sau khi lắp đặt ống lọc và ống chống tiến hành bơm rửa, thả sỏi.
+ Công tác quan trắc đo mực nước ngầm tại các giếng được thực hiện 3 lần trong ngày và liên tục 7 ngày.

3.6 Thí nghiệm thấm trong hố khoan
+ Thí nghiệm thấm theo phương pháp cột nước thay đổi được tiến hành trong hố khoan với mục đích xác định hệ số thấm của các lớp cuội sỏi, cát.

3.7 Đo điện trở suất của đất
+ Thí nghiệm này để xác định điện trở suất của đất, cung cấp các thông số cho thiết kế chống sét và tiếp địa công trình.

4. THÍ NGHIỆM TRONG PHÒNG
Các mẫu đất nguyên dạng và biến dạng lấy từ hố khoan được thí nghiệm các chỉ tiêu sau:

4.1 Thí nghiệm xác định thành phần hạt
Thành phần hạt được xác định bằng phương pháp rây có rửa nước cho đất hạt thô (>0.075mm) kết hợp với phương pháp tỉ trọng kế cho loại đất hạt mịn (<0.075mm)

4.2 Thí nghiệm xác định độ ẩm tự nhiên
Độ ẩm tự nhiên của đất W% xác định bằng cách sấy khô mẫu đất ở nhiệt độ 100-105oC, cho đến khi sự tổn thất khối lượng không thay đổi. Trọng lượng của nước trong đất và trọng lượng hạt sẽ được xác định để tính toán độ ẩm.

4.3 Thí nghiệm xác định tỷ trọng hạt

4.4 Thí nghiệm xác định dung trọng tự nhiên
Dung trọng tự nhiên của đất được xác định bằng cách dùng dao đối với những đất loại sét, sét pha, cát pha, cát hạt nhỏ, dùng phương pháp đo trực tiếp cho những mẫu đất chứa nhiều sỏi sạn không cắt bằng dao vòng được.

4.5 Thí nghiệm xác định giới hạn Atterberg
Giới hạn Atterberg bao gồm giới hạn chảy của đất được xác định bằng phương pháp Cassagrande, giới hạn dẻo của đất xác định bằng cách lăn tay mẫu đất thành que.

4.6 Thí nghiệm cắt trực tiếp
Thí nghiệm cắt trực tiếp nhằm xác định lực dính đơn vị và góc ma sát trong của đất bằng cách cắt trực tiếp mẫu đất trong hộp cắt cho đến khi nó bị phá hoại theo một mặt cắt xác định trước.

4.7 Thí nghiệm nén cố kết
Thí nghiệm nén cố kết nhằm xác định hệ số nén lún, hệ số cố kết và hệ số thấm của đất bằng phương pháp nén không nở hông.

4.8 Thí nghiệm nén ba trục
Thí nghiệm nén 3 trục theo sơ đồ cố kết không thoát nước nhằm xác định lực dính không thoát nước, lực dính hiệu quả và góc ma sát trong không thoát nước, góc ma sát trong hiệu quả.

4.9 Thí nghiệm nén đơn
Phương pháp nén nở hông (nén đơn) xác định sức chịu nén đơn Qu của đất dính.
Ghi chú: Ngoài các chỉ tiêu làm thí nghiệm trên, các chỉ tiêu khác như: Dung trọng khô, dung trọng đẩy nổi, độ bão hoà nước, độ rỗng, chỉ số dẻo, chỉ số độ sệt, hệ số rỗng, module biến dạng…

4.10 Thí nghiệm xác định đặc trưng cơ lý của mẫu đá:
Các thí nghiệm được tiến hành để xác định tỷ trọng, khối lượng thể tích, cường độ kháng nén khi khô, cường độ kháng nén bão hoà, độ rỗng của đá, độ hoá mềm, độ hút nước, cường độ kháng kéo trên các mẫu đá.

Xem thêm dịch vụ thí nghiệm nén tĩnh cọc