Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2016

Khoan địa chất, khảo sát địa chất công trình là gì?

Khoan địa chất, khảo sát địa chất công trình là sử dụng máy khoan XY-1 hoặc HT-150E để khoan sâu vào trong lòng đất, trong quá trình khoan kết hợp lấy mẫu thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý và thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT hiện trường.

Loại công trình nào cần phải khoan địa chất, khảo sát địa chất?

Theo thông tư số 39/2009/TT-BXD thì xây nhà diện tích >250m2 hoặc lớn hơn 3 tầng thì nhất thiết phải khoan khảo sát địa chất, kèm theo đó phải có bản vẽ thiết kế và hồ sơ khoan khảo sát địa chất thì mới được xin cấp phép xây dựng công trình.
Khoan địa chất, khảo sát địa chất công trình với nhà có quy mô nhỏ thì không đòi hỏi phải khảo sát quá phức tạp, chỉ cần đáp ứng đủ số liệu tính toán cho thiết kế là được.

Các công trình lớn như nhà cao tầng, chung cư phải khảo sát địa chất như thế nào?

Đối với các công trình có quy mô lớn như nhà cao tầng hay chung cư cao tầng thì công tác khoan địa chất, khảo sát địa chất đòi hỏi phức tạp hơn.
Số lượng hố khoan cho 1 đơn nguyên nhà cao tầng phài >=3 hố khoan. Chiều sâu hố khoan khảo sát địa chất phải đảm bảo khoan sâu vào lớn đất có cường độ chịu tải tốt ít nhất 5m.
Lớp đất có cường độ chịu tải tốt là lớp đất có số chùy xuyên tiêu chuẩn SPT của thí nghiệm khảo sát địa chất hiện trường >50 búa.

Chung cư cao tầng hay nhà cao tầng nhất thiết phải khoan địa chất, khảo sát địa chất



Chọn nhà thầu nào để khoan khảo sát địa chất?

Cần lưu ý khi chọn nhà thầu khoan địa chất, khảo sát địa chất:

- Nhà thầu là đơn vị phải có ngành nghề, lĩnh vực chuyên môn có chức năng khoan địa chất, khảo sát địa chất công trình.
- Đã từng tham gia khảo sát địa chất với các công trình tương tự và ưu tiên các nhà thầu khảo sát địa chất được chủ đầu tư chọn tham gia khảo sát địa chất từ 2 lần trở lên để cho thấy mức độ uy tín của nhà thầu trong công tác khảo sát địa chất công trình.

Nên chọn nhà thầu khảo sát địa chất có uy tín, tham gia ít nhất 2 công trình cùng 1 chủ đầu tư

Quy trình khoan địa chất, khảo sát địa chất như thế nào?

Trình tự của 1 quy trình khoan khảo sát địa chất gồm
1 - Công tác hiện trường
Dùng máy khoan chuyên dụng khoan sâu vào bên trong lòng đất
Lấy mẫu: cứ 2m khoan sẽ lấy 1 mẫu đất lên để đem về phòng thí nghiệm kiểm tra các chỉ tiêu cơ lý của mẫu đất.
Thí nghiệm hiện trường: sau khi lấy mẫu xong, tiến hành thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT.

Công tác khoan địa chất ngoài hiện trường
2 - Thí nghiệm mẫu trong phòng
Sau khi khoan xong, tập hợp mẫu đem về phòng thí nghiệm thí nghiệm các chỉ tiêu cơ lý của mẫu đất
Mẫu được lấy ra khỏi dụng cụ bào quản, sau đó được chia làm nhiều phần để tiến hành các thí nghiệm khác nhau: thí nghiệm độ ẩm, thành phần hạt, dung trọng, tỷ trọng, dung trọng, cắt, nén, thí nghiệm Chảy-dẻo,....
Sau khi thí nghiệm xong, các số liệu thí nghiệm sẽ được tổng hợp lại thành bảng chỉ tiêu cơ lý đất

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2016

Mẫu hợp đồng khảo sát địa hình, địa chất và thiết kế công trình


Nghiên cứu nhiệm vụ khảo sát hiện trường và trình cho Bên A mọi sản phẩm hồ sơ báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình bao gồm thuyết minh báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình, các bản vẽ, thuyết minh tính toán, chỉ dẫn kỹ thuật, dự toán xây dựng công trình phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng;

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
--------------------------
Hà Nội, ngày tháng năm 2014 


HỢP ĐỒNG KINH TẾ


Về việc: Khảo sát địa hình, địa chất và thiết kế công trình
Số: /HĐTV
Công trình: Khảo sát địa hình tỷ lệ 1/500 phục vụ qui hoạch chi tiết xây dựng khu đô thị phía …………………...
Địa điểm: Phường ……. xã ………….. – TX …………… – ………..


I. Các căn cứ để ký kết hợp đồng:
Căn cứ Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 của Quốc Hội khoá XI, kỳ họp thứ 4;


- Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá 11;


- Nghị định số 58/2008/NĐ-CP ngày 05/05/2008 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu;
Căn cứ Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính Phủ về Quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Căn cứ Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/06/2007 của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 10/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ thông tư số 05/2007/TT-BXD ngày 25 tháng 07 năm 2007 về hướng dẫn lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Thông tư số 06/2007/TT-BXD ngày 25/07/2007 của Bộ Xây dựng về việc hướng dẫn hợp đồng trong hoạt động xây dựng;
Căn cứ vào chức năng hoạt động của các bên;


- Hôm nay, ngày tháng năm 20…. tại trụ sở văn phòng Công ty Cổ phần đầu tư xây dựng………, chúng tôi gồm các bên dưới đây:

II. Các bên ký hợp đồng:

1. Bên giao thầu (gọi tắt là bên A):

CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ THƯƠNG MẠI …..

Đại diện : Ông …………………………….

Chức vụ : Tổng giám đốc

Địa chỉ Số ….., liền kề 6A, phường Mố Lao, quận Hà Đông, Tp Hà Nội.


2. Bên nhận thầu (gọi tắt là bên B):............................................................
Đại diện : ……………….. Chức vụ: ………………..
Địa chỉ : Nhà số ….. Ngách …… Phố Dich Vọng quận Cầu Giấy – Hà Nội.
Điện thoại : ………………….
Số tài khoản: ………………….. Tại : Ngân hàng …..


HAI BÊN THOẢ THUẬN KÝ KẾT
HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VỚI NHỮNG ĐIỀU KHOẢN SAU

ĐIỀU 1. Luật và ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng:
1.1. Luật áp dụng: Hợp đồng chịu sự điều tiết của Luật nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
1.2: Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng: Ngôn ngữ sử dụng cho hợp đồng là tiếng Việt.

ĐIỀU 2. Loại tiền thanh toán: Loại tiền thanh toán là tiền Việt Nam. Phương thức thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

ĐIỀU 3. Nội dung công việc phải thực hiện:

3.1. Nội dung công việc:

Bên A giao cho bên B thực hiện công việc: Khảo sát địa hình tỷ lệ 1/500 phục vụ qui hoạch chi tiết xây dựng khu đô thị phía Nam …….

Sản phẩm Hồ sơ báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình về địa hình và địa chất - dự toán, phải được các cơ quan có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt theo quy định.

3.2. Phạm vi công việc:

Phạm vi công việc của Bên B bao gồm các công việc sau:

* Khảo sát địa hình.

- Lập lưới đường chuyền hạng IV địa hình cấp IV : 04 điểm.

- Lập lưới đường chuyền cấp II địa hình cấp IV : 20 điểm.

- Thuỷ chuẩn hạng IV địa hình cấp IV : 15 Km.

- Đo vẽ bản đồ địa hỡnh tỷ lệ 1/500. Đồng mức 0,5m địa hỡnh cấp IV (Khối lượng đó bao gồm cả phạm vi nghiờn cứu) 60 ha.


* Công tác khoan khảo sát địa chất công trỡnh được thực hiện với khối lượng như sau :
Khoan 8 hố mỗi hố sõu 7.0 m.

Chất lượng và yêu cầu kỹ thuật theo quy định của pháp luật về xây dựng.

* Tư vấn lập báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình:

- Nghiên cứu nhiệm vụ khảo sát hiện trường và trình cho Bên A mọi sản phẩm hồ sơ báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình bao gồm thuyết minh báo cáo kinh tế kỹ thuật công trình, các bản vẽ, thuyết minh tính toán, chỉ dẫn kỹ thuật, dự toán xây dựng công trình phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng;

- Đề xuất các ý kiến mà Bên B cho là cần thiết và phù hợp với Dự án mà chưa được Bên A yêu cầu;

- Đề xuất nhiệm vụ khảo sát phục vụ thiết kế, thí nghiệm bổ sung và lập nhiệm vụ khảo sát bổ sung khi phát hiện không đầy đủ số liệu khảo sát để thiết kế;

- Tham gia các cuộc họp có liên quan tới khảo sát tại công trường hoặc giao ban khi được Bên A triệu tập trong quá trình xây dựng công trình;

- Tham gia nghiệm thu các công việc hoàn thành các hạng mục công trình đã tham gia làm và toàn bộ công trình do Bên A tổ chức.


ĐIỀU 4. Giá trị hợp đồng: Tạm tính theo các quy định hiện hành của Nhà nước

4.1. Giá hợp đồng được xác định trên cơ sở :

- Đơn giá khảo sát xây dựng ban hành kèm theo Quyết định số 193/2006/QĐ-UBND ngày 25/10/2006 của UBND Thành Phố Hà Nội.

- Nghị định 108/2010 ND – CP ngày 29/10/2010 qui định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động.

4.2. Giá trị hợp đồng tạm tính: 30% giá trị Tư vấn, khảo sát lập BCKTKT được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Giá trị hợp đồng tạm tính: 30%* (….000.000 + ...000.000) = ….000.000 VNĐ.

Làm tròn: = …000.000 VNĐ.

(Bằng chữ:Một trăm chín mươi tám triệu hai trăm bốn chín nghìn đồng chẵn).

Giá trị hợp đồng trên có thể được điều chỉnh trong các trường hợp:

- Bổ sung, điều chỉnh khối lượng thực hiện so với hợp đồng;

- Nhà nước thay đổi chính sách: trong trường hợp này chỉ được điều chỉnh khi được cấp có thẩm quyền cho phép;

- Trường hợp bất khả kháng: các bên tham gia hợp đồng thương thảo để xác định giá trị hợp đồng điều chỉnh phù hợp với các quy định của pháp luật.

ĐIỀU 5. Tạm ứng và thanh toán hợp đồng:
Tạm ứng lần 1 : 40% * ….000.000 = .000.000 làm tròn ….000.000 VNĐ ngay sau khi ký hợp đồng.
Thanh toán nốt số tiền còn lại ngay sau khi hồ sơ được phê duyệt và bên A được phía Chủ đầu tư thanh toán.


ĐIỀU 6. Thời gian, tiến độ thực hiện công việc:

- Thời gian bắt đầu: ngay sau khi hợp đồng được ký kết;

- Thời gian thực hiện hợp đồng: 21 ngày kể từ ngày ký kết hợp đồng;

Thời gian thực hiện trên không bao gồm thời gian phê duyệt phương án khảo sát, thời gian thẩm tra, thẩm định và thời gian phê duyệt dự án,...

ĐIỀU 7. Quyền và nghĩa vụ của bên nhận thầu:

- Thực hiện hoàn chỉnh các nội dung công việc do bên A giao tại Điều 3 của hợp đồng này, đảm bảo chất lượng và các yêu cầu kỹ thuật theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước, đảm bảo tiến độ;
- Không được tiết lộ thông tin, tài liệu có liên quan đến việc lập báo cáo kinh tế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công do mình đảm nhận khi chưa được phép của Bên A hoặc người có thẩm quyền;
- Bồi thường thiệt hại khi sử dụng các thông tin, tài liệu, quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng, các giải pháp kỹ thuật không phù hợp và các hành vi vi phạm khác gây thiệt hại do lỗi của mình gây ra;
- Phối hợp với Bên A chỉnh sửa hoàn chỉnh hồ sơ theo yêu cầu của cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành;
- Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.


ĐIỀU 8. Quyền và nghĩa vụ của bên giao thầu:

- Giao cho bên B đầy đủ hồ sơ, tài liệu có liên quan;

- Thanh toán khối lượng thực hiện cho Bên B theo đúng quy định và thời hạn đã cam kết trong hợp đồng;

- Cử các bộ kỹ thuật phối hợp với Bên B để giải quyết những tồn tại vướng mắc trong quá trình thực hiện hợp đồng;

- Chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại khi không thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng.

ĐIỀU 9. Quản lý chất lượng công trình xây dựng:

Bên A và bên B thực hiện quy chế quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định trong Nghị định của Chính phủ số 209/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 về quản lý chất lượng công trình xây dựng.


ĐIỀU 10. Nghiệm thu các công việc hoàn thành:

Khi khối lượng công việc hoàn thành bên giao thầu và bên nhận thầu tiến hành nghiệm thu công trình. Hồ sơ nghiệm thu công trình cần thể hiện được các nội dung sau:
Nội dung các công việc cần nghiệm thu (nghiệm thu từng phần, nghiệm thu toàn bộ khối lượng công việc);
Thành phần tham gia nghiệm thu, người ký biên bản nghiệm thu, biều mẫu biên bản nghiệm thu đối với từng đối tượng nghiệm thu, trong đó có đánh giá kết quả công việc được nghiệm thu;
Các công việc cần đo lường để thanh toán, phương pháp đo lường.


ĐIỀU 11. Trách nhiệm với các sai sót:

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu xảy ra sai sót thì phải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai sót. Phải hoàn thành các công việc còn dở dang và sửa chữa sai sót. Kiểm tra thêm với các sai sót sau sửa chữa và những nghĩa vụ chưa hoàn thành theo hợp đồng. Bên gây ra sai sót làm ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ của công trình phải hoàn toàn chịu trách nhiệm.


ĐIỀU 12. Tạm dừng hợp đồng:

Bên giao thầu và bên nhận thầu được quyền tạm dừng hợp đồng xây dựng trong những trường hợp sau:

- Do lỗi của bên giao thầu hoặc bên nhận thầu gây ra;
- Các trường hợp bất khả kháng;
- Các trường hợp khác do hai bên thoả thuận;

Một bên có quyền quyết định tạm dừng hợp đồng do lỗi của bên kia gây ra, nhưng phải báo cho bên kia biết bằng văn bản và cùng bàn bạc giải quyết để tiếp tục thực hiện đúng hợp đồng xây dựng đã ký kết; trường hợp bên tạm dừng không thông báo mà tạm dừng gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bên thiệt hại.

Thời gian và mức tiền đền bù thiệt hại do tạm dừng hợp đồng do hai bên thoả thuận để khắc phục.

ĐIỀU 13. Hiệu lực của hợp đồng:

- Hợp đồng làm thành 04 bản có giá trị pháp lý như nhau, Bên A giữ 02 bản, Bên B giữ 02 bản.

- Hiệu lực của hợp đồng: Hợp đồng này có hiệu lực kể từ ngày ký.

ĐẠI DIỆN BÊN A                                          ĐẠI DIỆN BÊN B

Thứ Ba, 5 tháng 1, 2016

Quy trình thử tải tĩnh cọc khoan nhồi

- Chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất tại từng vị trí cột theo báo cáo khảo sát.

- Kết quả tính toán chịu lực nén cọc theo thiết kế (Ptk = 110.51 Tấn)

- Tiêu chuẩn thiết kế nền, nhà và công trình TCXD45-78

- Kết cấu bê tông cốt thép – Tiêu chuẩn thiết kế TCVN 356 – 2005

- TCXDVN 206 – 2005 - Cọc khoan nhồi – Yêu cầu về chất lượng thi công


CÁC CHỈ DẪN CÔNG TÁC THỬ TẢI CỌC KHOAN NHỒI

1. Các tiêu chuẩn, quy phạm áp dụng:

- Chỉ tiêu cơ lý của các lớp đất tại từng vị trí cột theo báo cáo khảo sát.

- Kết quả tính toán chịu lực nén cọc theo thiết kế (Ptk = 110.51 Tấn)

- Tiêu chuẩn thiết kế nền, nhà và công trình TCXD45-78

- Kết cấu bê tông cốt thép – Tiêu chuẩn thiết kế TCVN 356 – 2005

- TCXDVN 206 – 2005 - Cọc khoan nhồi – Yêu cầu về chất lượng thi công

- TCXDVN 326 – 2004 - Cọc khoan nhồi – Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu.

- TCXDVN 269 – 2002 - Cọc – Phương pháp thí nghiệm bằng tải trọng tĩnh ép cọc

2. Nguyên lý

Dùng hệ thống cọc neo hoặc các vật nặng chất phía trên đỉnh cọc làm đối trọng để gia tải nén cọc.

Hệ neo chọn lựa trong qui trình này là hệ đối trọng

Chọn tải trọng thí nghiệm lớn nhất là 200 Tấn

3. Trình tự thực hiện

a. Công tác chuẩn bị

Dọn dẹp, chuẩn bị mặt bằng thử tĩnh cọc.

b. Thực hiện

- Gia công đầu cọc và đặt hệ kích

- Cắt tẩy đầu cọc đến phần bê tông đặc chắc, tạo phẳng bề mặt

- Lắp đặt hệ kích và căn chỉnh

- Gia cố nền và lắp đặt gối đỡ, dàn tải trọng

- Lắp đặt dầm chính, dầm phụ và lắp đặt đối trọng

- Lắp đặt hệ đồng hồ đo chuyển vị.

- Lắp đặt hệ bơm, đồng hồ thủy lực

- Gia tải theo qui trình và ghi chép số liệu



ĐỀ CƯƠNG CÔNG TÁC THỬ TẢI CỌC KHOAN NHỒI

PHẦN 1 : TỔNG QUÁT CHUNG

1. Mục đích thực hiện

- Để có số liệu về sức chịu tải thực tế của cọc.

2. Số lượng và vị trí cọc thử :

- Số lượng cọc thí nghiệm : 01 cọc

- Vị trí cọc thử : xác định tại hiện trường.

3. Thiết bị thử cọc :

- Kích thủy lực và đồng hồ áp suất 400 tấn : 01 cái

- Hệ khung, dàn chất tải bằng thép hình

- Đối trọng bằng block BTCT có tổng trọng lượng bằng 200 Tấn.

- Cầu đặt đồng hồ bằng thép U 100, gắn chặt chân thép cắm sâu vào đất nền.

- Đồng hồ đo độ lún : 4 đồng hồ hiệu Mitutoyo – Japan có độ chính xác 1/100mm, độ chuyển dịch max = 50mm.

- Cẩu 30 tấn : 01 cái

- Máy hàn 30Kw : 01 cái

- Máy bơm thủy lực 01Kw : 01 cái

- Máy phát điện 10Kw : 01 cái

4. Hệ thống chất tải

a. Hệ khung dàn chất tải

- Dầm chính thép tấm 30mm tổ hợp

- Dầm, khung truyền tải bằng thép I 550 tổ hợp

- Hệ dầm và khung chịu được tải trọng 200 tấn được đặt trên các gối chống lún trên nền đã được san phẳng.

b. Đối trọng : Tổng trọng lượng bằng 200 tấn.

c. Xử lý đầu cọc và đặt kích thủy lực

- Để đảm bảo độ chính xác của công việc thí nghiệm, đầu cọc tiếp giáp với đế kích được xử lý bề mặc cọc bằng keo Epoxy qua tấm đệm thép 30mm, sau khi xử llý gắn 2 đai thép dày 15mm, xiết chặt bằng bu long M 22 để tránh hiện tượng vỡ đầu cọc do nén cục bộ.

5. Các thiết bị đo và phương pháp đo độ lún

- Các thiết bị đo lún : kích tăng tải, đồng hồ áp lực, đồng hồ đo độ lún đều có giấy chứng nhận của Trung Tâm Kỹ Thuật Tiêu Chuẩn Đo Lường 3 kiểm định trước khi thí nghiệm.

- Phương pháp đo độ lún tiến hành theo quy trình thử tải lập.

Xem dịch vụ khoan địa chất



PHẦN 2 : QUY TRÌNH THỬ CỌC


2.1/ TIỂU CHUẨN THÍ NGHIỆM :

- Áp dụng tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam 269 : 2002 “ Cọc – Phương pháp thí nghiệm bằng tải trọng tĩnh ép dọc trục” của Bộ Xây Dựng ngày 13/3/2002.

2.2/ QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIAN VÀ CẤP TẢI TRỌNG

- P thiết kế = 100 tấn, Ptải thí nghiệm = 200 tấn, thí nghiệm 2 chu kỳ

+ Gia tải sơ bộ :

TẢI TRỌNG THỜI GIAN NÉN

5% Pthiết kế 10 phút

0 10 phút

+ Chu kỳ 1 :

- Gia tải :

TẢI TRỌNG THỜI GIAN NÉN

0
25% Pthiết kế 1h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước), nhỏ hơn 2h

50% Pthiết kế 1h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước), nhỏ hơn 2h

75% Pthiết kế 1h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước), nhỏ hơn 2h

100% Pthiết kế 1h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước), nhỏ hơn 2h

- Giảm tải :

TẢI TRỌNG THỜI GIAN NÉN

50% Pthiết kế 30 phút

0 60 phút

+ Chu kỳ 2:

- Gia tải :

TẢI TRỌNG THỜI GIAN NÉN

0
50% Pthiết kế 30 phút

100% Pthiết kế 30 phút

125% Pthiết kế 1h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước), nhỏ hơn 2h

150% Pthiết kế 1h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước), nhỏ hơn 2h

175% Pthiết kế 1h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước), nhỏ hơn 2h

200% Pthiết kế 24h (Hoặc lớn hơn để đạt ổn định quy ước)

- Giảm tải :

TẢI TRỌNG THỜI GIAN NÉN

150% Pthiết kế 30 phút

100% Pthiết kế 30 phút

50% Pthiết kế 30 phút

0 60 phút

Kết thúc thí nghiệm

2.3/ QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIAN ĐỌC ĐỒNG HỒ

+ Trước và ngay khi tăng, giảm tải

+ 10 phút một lần cho 30 phút đầu

+ 15 phút một lần cho 30 phút sau đó

+ 60 phút một lần cho khoảng thời gian tiếp theo

2.4/ QUY ĐỊNH VỀ ỔN ĐỊNH QUY ƯỚC

- Độ ổn định quy ước là 0.10mm/h

- Cọc được tăng tải lên cấp mới khi đạt độ ổn định quy ước nói trên sau 1 giờ quan sát cuối cùng.

2.5/ QUY ĐỊNH VỀ TẢI TRỌNG VÀ ĐỘ LÚN DỪNG NÉN CỌC

- Dừng nén cọc khi tổng độ lún cọc vượt quá 10% đường kính cọc.

- Dừng nén cọc khi đầu cọc bị vỡ.

2.6/ QUY ĐỊNH VỀ PHÁ HOẠI CỌC QUY ƯỚC

- cọc được coi là phá hoại khi gặp các hiện tượng sau :

+ Vật liệu cọc bị phá hoại

+ Tổng độ lún đo vượt quá 10% đường kính cọc.

2.7/ QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIAN CỌC NGHỈ :

Tối thiểu là 7 ngày (kể từ ngày hạ cọc)

PHẦN 3 : KẾT QUẢ THỬ TĨNH CỌC

- Báo cáo tổng kết công tác thí nghiệm xác định sức chịu tải của cọc bằng phương pháp nén tĩnh bao gồm các phần sau :

I/ PHẦN I : BÁO CÁO KẾT QUẢ THỬ TĨNH CỌC

II/ PHẦN II : CÁC PHỤ LỤC

1/ Biểu ghi thí nghiệm nén tĩnh

2/ Biểu tính độ lún đầu cọc thí nghiệm

3/ Bảng tổng hợp các đặc trưng thu được

4/ Các biểu đồ quan hệ :

+ Biểu đồ quan hệ tải trọng – chuyển vị

+ Biểu đồ quan hệ chuyển vị - thời gian

+ Biểu đồ quan hệ tải trọng – thời gian

+ Biểu đồ quan hệ tải trọng – chuyển vị - thời gian

5/ Quy trình thử - Mặt bằng vị trí cọc thử - Sơ đồ bố trí thiết bị thí nghiệm

6/ Các giấy hiệu chuẩn kiểm định thiết bị thí nghiệm

7/ Quyết định của Bộ Xây Dựng – Phòng thí nghiệm LAS-XD 196

8/ Các hình ảnh chụp quá trình thí nghiệm tại hiện

Xem thêm thí nghiệm nén tĩnh cọc

Một số vấn đề về khảo sát địa chất công trình khi xây dựng đập lớn

Đập lớn là đập mà khi xảy ra sự cố sẽ gây thiệt hại lớn, vì vậy việc khảo sát, thiết kế, thi công cần phải hết sức cẩn thận. Tác giả khuyến cáo, ngoài việc tuân thủ quy phạm hiện hành, để tăng mức độ an toàn cần lưu ý thêm bảy vấn đề được nêu chi tiết trong bài viết.

Một số vấn đề về khảo sát địa chất công trình khi xây dựng đập lớn

PGS.TS. Phạm Hữu Sy - Đại học Thuỷ lợi

Tóm tắt: Nói chung đập lớn là đập mà khi xảy ra sự cố sẽ gây thiệt hại lớn, vì vậy việc khảo sát, thiết kế, thi công cần phải hết sức cẩn thận để hạn chế khả năng xảy ra sự cố. Cho đến nay ở Việt Nam chưa có quy phạm khảo sát địa chất dành riêng cho đập lớn. Tác giả khuyến cáo, ngoài việc tuân thủ quy phạm hiện hành về khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình thuỷ lợi, để tăng mức độ an toàn cho công trình cần lưu ý đến 7 vấn đề mà trong bài báo đã trình bày tương đối chi tiết, đó là các vấn đề: áp dụng kết hợp nhiều phương pháp khảo sát; độ sâu khảo sát nên đạt đến giá trị lượng mất nước đơn vị nhỏ hơn 0,01 l/ph.m khi thí nghiệm ép nước trong khi khoan; phạm vi đo vẽ địa chất công trình nên mở rộng hơn quy định; chú ý đến động đất kích thích do xây dựng hồ chứa; ổn định mái hố móng do giản ứng suất; ổn định thấm do cột nước cao và vấn đề từ biến của đá, đặc biệt là của vật chất gắn kết trong kẽ nứt của đá.


Khoan địa chất công trình thủy điện lớn

Vấn đề "đập lớn" ở Việt Nam mới chỉ được quan tâm gần đây. Hội đập lớn ViệtNam mới chỉ được thành lập năm 2004. Cho đến nay, định nghĩa "đập lớn" vẫn chưa được thống nhất. Theo cách hiểu thông thường, đập lớn phải là đập cấp I, cấp II, tức là lớn về quy mô (chiều cao đập và thể tích trữ nước) mà khi xảy ra sự cố gây thiệt hại lớn về kinh tế và con người. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng có những đập không lớn về quy mô nhưng sau đập là các công trình trọng điểm quốc gia mà khi xảy ra sự cố đập gây thiệt hại lớn cho Nhà nước thì cũng phải được xếp vào loại đập lớn. Như vậy, các cách hiểu có thể khác nhau về quy mô công trình nhưng đều đồng nhất với nhau về mức độ thiệt hại do chúng gây ra. Vì vậy, vấn đề khảo sát địa chất công trình mà bài báo này đặt ra ở đây không chỉ liên quan đến quy mô công trình mà là các vấn đề chung cần xem xét lưu ý khi tiến hành khảo sát để bảo đảm tăng độ an toàn cho công trình.

Trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, công trình lớn được hiểu ngay là nhà cao tầng. Tuy chưa có một văn bản chính thức nào định nghĩa cao bao nhiêu thì được gọi là nhà cao tầng nhưng thông thường được hiểu phổ biến là từ 8 tầng trở lên và đã có một tiêu chuẩn ngành về khảo sát địa chất công trình cho xây dựng nhà cao tầng, đó là tiêu chuẩn TCXD 194:1997 Nhà cao tầng - Công tác khảo sát địa kỹ thuật.

Trong lĩnh vực thuỷ lợi - thuỷ điện, cho đến nay như đã nói, ngay cả thuật ngữ cũng chưa thống nhất nên chưa có một tiêu chuẩn quy phạm nào quy định công tác khảo sát địa chất công trình cho xây dựng đập lớn. Như vậy, rõ ràng, khi lập đề cương và thực hiện công tác khảo sát địa chất công trình cho xây dựng đập lớn chúng ta vẫn phải tuân thủ quy phạm hiện hành "Tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000 - Thành phần, nội dung và khối lượng khảo sát địa chất trong các giai đoạn lập dự án và thiết kế công trình thuỷ lợi", thu thập đủ số liệu để kỹ sư thiết kế tính toán lún, ổn định trượt và ổn định thấm, tuy nhiên chúng tôi cho rằng nên lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

1. Về áp dụng các phương pháp khảo sát

Các phương pháp khảo sát địa chất công trình để thu thập thông tin về các điều kiện địa chất công trình thông thường bao gồm:

- Đo vẽ địa chất công trình

- Khoan, đào thăm dò

- Thăm dò địa vật lý

- Thí nghiệm hiện trường (CPT, SPT, xuyên động, nén hông lổ khoan, cắt, nén trong hố đào, đổ nước, hút nước, ép nước trong hố khoan,...)

- Thí nghiệm trong phòng.

Khi khảo sát địa chất cho các công trình thông thường có thể chỉ áp dụng một hoặc hai phương pháp khảo sát nhưng đối với các đập lớn, nên kết hợp nhiều phương pháp để có kết quả bổ sung cho nhau, kiểm tra lẫn nhau. Nên tăng cường thí nghiệm hiện trường và trong phương pháp này nên thực hiện kết hợp nhiều loại thí nghiệm, ví dụ, nén tĩnh với nén hông lổ khoan; xuyên tĩnh với SPT,.... Khi các kết quả khảo sát thu được từ các phương pháp khảo sát khác nhau mà vênh nhau chúng ta nên phân tích kỹ lưỡng để lựa chọn kết quả hợp lý. Ví dụ, khi áp dụng đồng thời cả khoan, xuyên tĩnh, địa vật lý điện và địa chấn để xác định địa tầng mà kết quả không thật phù hợp, hãy phân tích lịch sử phát triển địa chất, các quy luật địa chất để phân lớp. Khi áp dụng đồng thời cả thí nghiệm trong phòng và hiện trường để xác định các tính chất cơ lý của đất mà không phù hợp nhau, hãy kết hợp phân tích nguồn gốc hình thành đất để lựa chọn. Chúng tôi có trao đổi với một số chuyên gia thiết kế, một số người thích các kỹ sư địa chất công trình đánh thấp các chỉ tiêu xuống để thiết kế cho an toàn. Chúng tôi nói rằng không phải lúc nào điều đó cũng đúng. ở đây chúng ta không bàn về cơ chế thẩm tra, thẩm định mà chỉ nói thuần tuý về góc độ chuyên môn. Đối với nhiều trường hợp, sau khi có kết quả thí nghiệm mẫu, khi cung cấp cho thiết kế thường đánh thấp xuống thì an toàn hơn nhưng cũng có trường hợp phản tác dụng. Ví dụ, đối với thí nghiệm đất đắp đập. Khi thiết kế với chỉ tiêu thí nghiệm thực, đất trong thân đập sẽ được đầm đủ độ chặt tối đa, sẽ hạn chế khả năng trương nở khi hồ tích nước. Ngược lại, khi người kỹ sư địa chất cung cấp chỉ tiêu gk nhỏ hơn chỉ tiêu thí nghiệm thực để thiết kế, thi công sẽ chóng đạt yêu cầu nhưng thực tế đất trong thân đập chưa đủ độ chặt tối đa sẽ phát huy trương nở khi tiếp xúc với nước. Đã có công trình nghiên cứu để chứng minh điều đó. Đối với đất nền cũng vậy, khi đào hố móng là đã bóc đi một lượng đất nhất định, tức là đã làm giảm tải ở độ sâu đặt móng. Tải trọng công trình thiết kế có "trách nhiệm" bù lại phần đất đã bóc đi. Nếu lấy nhỏ giá trị gtn của đất nền, trong trường hợp đất nền có tính trương nở có thể dẫn đến thiết kế sai làm nứt công trình. 18/24 công trình trên cùng một quả đồi đất đỏ basalt ở Hướng Hoá - Quảng Trị mà chúng tôi quan sát được đã chứng tỏ điều đó. Nhà càng nhẹ càng bị nứt nhiều.

2. Độ sâu khảo sát

Theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000, độ sâu các công trình thăm dò cho công trình đầu mối ứng với từng giai đoạn khảo sát như sau:

Tiền khả thi

(2/3¸1)H, nếu gặp đá nguyên khối thì sâu vào 2-5m

Nghiên cứu khả thi

- Tới lớp có khả năng làm nền công trình mà dưới tác dụng của công trình không làm ảnh hưởng tới sự thay đổi trạng thái của chính lớp đất đá nền đó.

- Xác định được giới hạn trên của tầng cách nước (k< 5¸10 lần của lớp trên nó).

-(2/3¸1)H, trường hợp đặc biệt có thể sâu hơn.

Thiết kế kỹ thuật

- Đối với đập bê tông: khoan vào đá phong hoá nhẹ và không quá 1,5 H.

- Đối với đập không phải là đá: sâu vào phong hoá vừa 1¸3m, các hố tại tim tuyến sâu (2/3¸1)H.

Bản vẽ thi công

Như trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật



Đối với giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, khi mà chưa biết địa tầng của khu vực thì xác định độ sâu thăm dò theo kinh nghiệm (2/3¸1)H là hợp lý nhưng đối với các giai đoạn sau, khi đã biết địa tầng thì nên căn cứ vào địa tầng, lượng mất nước đơn vị và mức độ phát triển của các kẽ nứt kiến tạo (nếu có). Thông thường khi khoan ở vị trí dự kiến xây dựng đập bao giờ cũng đồng thời thí nghiệm ép nước trong hố khoan. Vậy thì đối với các giai đoạn sau, nên khoan đến độ sâu mà lượng mất nước đợn vị nhỏ hơn 0,01 l/ph.m liên tục trong 3 đoạn ép (mỗi đoạn ép 5m) thì dừng. Đập lớn trong nhiều trường hợp thường liên quan với cột nước lớn. Nếu quy định (2/3¸1)H có khi không kinh tế nếu nền là đá macma liền khối ít nứt nẻ hoặc không an toàn nếu là đá trầm tích xen kẹp lớp yếu trong những vùng chịu vận động kiến tạo mạnh trong quá khứ. Ngoài ra, khi nền đập có đứt gãy kiến tạo cắt qua và đã có hố khoan bắt gặp ở độ sâu nào đó thì nhất thiết phải nghiên cứu kỹ đới phá huỷ hoặc chiều dài gặp bùn đoạn tầng, căn cứ vào chiều dài bắt gặp và góc nghiêng để quy đổi chiều rộng của đứt gãy. Những thông số này rất quan trọng khi phân tích dự báo khả năng phát sinh động đất kích thích mà sẽ đề cập thêm dưới đây.

Ngoài điều quy định độ sâu (2/3¸1)H, các điều quy định khác đều không rõ ràng, ví dụ, "Tới lớp có khả năng làm nền công trình mà dưới tác dụng của công trình không làm ảnh hưởng tới sự thay đổi trạng thái của chính lớp đất đá nền đó". Người kỹ sư địa chất công trình không phải là nhà thiết kế, không thể tính để kiểm tra khả năng ảnh hưởng của công trình tới sự thay đổi của nền, càng không thể tính ở hiện trường trong thời gian đang khoan để có thể cho dừng khoan được hay chưa. Điều đó chỉ có thể nhận định cảm tính khi nền đá đã chuyển sang một loại cứng hơn hẳn những lớp đã khoan qua. Khi giám sát khoan cho nhà máy xi măng Nghi Sơn, chúng tôi đã gặp trường hợp hố khoan xâm nhập vào đá liền khối liên tục 5m không có một kẽ nứt nào nhưng sau đó lại tiếp tục gặp bùn vì đó chỉ là một khối đá lăn. Nếu quy định khoan vào đá phong hoá vừa 1¸3m trong trường hợp này thật là nguy hiểm.

3. Phạm vi đo vẽ địa chất công trình

Theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000, phạm vi đo vẽ địa chất công trình đối với hồ chứa và đập dâng trong các giai đoạn khảo sát như sau:

Các số liệu 2H, 4H về phía thượng, hạ lưu và 1H về phía 2 vai đập là dựa trên cơ sở kinh nghiệm tổng kết nhiều năm, từ nhiều công trình. Cho đến nay, cũng chưa có cơ sở nào để có thể thay đổi các mức định lượng phạm vi đo vẽ nêu trên nhưng chúng tôi cho rằng, đối với đập lớn, với quan điểm tăng mức độ an toàn để giảm nguy cơ tai biến nên mở rộng phạm vi đo vẽ vì rằng ngoài mục đích là để phát hiện sớm các khối trượt, nguy cơ lũ quét nó còn giúp đánh giá khả năng mất nước qua các lũng sông bên cạnh vì khi cao trình mực nước dâng lên cao tức là rút ngắn quảng đường thấm sang lũng sông bên cạnh.

4. Vấn đề động đất.

Động đất là một tai biến địa chất mà cho đến nay chưa thể dự báo được một cách chính xác cả về cường độ, vị trí và thời điểm, vì vậy, rất nguy hiểm đối với xây dựng công trình nói chung, hồ chứa nói riêng và đặc biệt đối với các đập lớn. Không những vậy, những năm gần đây người ta phát hiện ra rằng việc xây dựng hồ chứa có thể gây ra động đất (thường được gọi là động đất kích thích). Khi hồ chứa Koyna (ấn độ) tích nước, các trận động đất nông cục bộ đã xảy ra thường xuyên ở vùng mà trước đây hầu như không có chấn động. Sau 5 năm hồ này tích nước, một trận động đất 6,5 độ đã xảy ra, giết chết 177 người và bị thương hơn 2000 người. Người ta đã quan sát được rằng các cơn địa chấn tăng lên theo mùa tăng của mực nước hồ. Như vậy, rõ ràng là việc xây dựng hồ chứa có thể gây ra động đất và động đất có thể tác động trở lại, gây phá huỷ đập và gây nên tai hoạ lớn. Trong khi đó từ trước đến nay, khi khảo sát địa chất, kỹ sư địa chất chỉ căn cứ vào bản đồ phân vùng địa chấn để cung cấp cho nhà thiết kế cấp động đất dự báo của vùng. Người nào cẩn thận hơn, có thể căn cứ thêm vào bản đồ kiến tạo để phân tích thêm một vài thông tin. Vấn đề động đất kích thích đang còn nhiều tranh luận vì rằng ứng suất tăng thêm do trọng lượng cột nước gây ra tại độ sâu phát sinh địa chấn rất không đáng kể nhưng động đất vẫn xảy ra nhưng nói chung khi xây dựng đập lớn, vấn đề xác định cấp động đất để đưa vào tổ hợp lực khi tính toán thiết kế không nên đơn thuần chỉ căn cứ vào bản đồ địa chấn như trước đây.

Động đất còn nguy hiểm hơn đối với trường hợp nền đập có cát. Thông thường khi phải thiết kế đập ở những nơi có lớp bồi tích sông quá dày, người ta chỉ bóc bỏ một phần, phần còn lại chỉ xử lý chống thấm. Khi xảy ra động đất, dưới tác dụng của sóng động đất cát sẽ chuyển sạng trạng thái "hoá lỏng", mất khả năng chịu tải hoàn toàn và đập sẽ bị vỡ.

5. Vấn đề ổn định mái hố móng.

Đập lớn trong nhiều trường hợp là đập cao và đặt trên nền đá. Vì vậy, hố móng thường phải sâu và thời gian phải thi công các công việc trong hố móng cũng lâu hơn. Khi ta bóc đi một khối lượng đất lớn tạo nên một hố lớn, sẽ xảy ra tình trạng giản ứng suất của đất đá ở hai bên bờ. Kỹ sư thiết kế chỉ căn cứ vào các chỉ tiêu cơ lý của đất đá khi khảo sát tức là ở trạng thái độ chặt tự nhiên để thiết kế mái hố móng bảo đảm ổn định nhưng thực tế do quá trình giản ứng suất, các chỉ tiêu g, j, C đều giảm và mái hố móng có thể bị trượt. Đối với các hố móng sâu, mái hố móng càng dễ mất ổn định khi được cấu tạo bởi đá trầm tích có thế nằm bất lợi (đổ ra ngoài) và có xen kẹp các lớp sét kết mỏng.

6. Vấn đề ổn định thấm.

Đập lớn thường có tuổi thọ thiết lế lâu dài. Với những đập lớn đồng thời có cột nước lớn cần phải xem xét khả năng phát triển quá trình xói ngầm, ngay cả trong trường hợp xây dựng trên nền đá. Chúng ta biết rằng xói ngầm là một quá trình tăng tiến. Dưới tác dụng của cột nước thuỷ lực lớn trong thời gian lâu dài, quá trình xói ngầm có thể đạt đến mức nguy hiểm, rửa sạch toàn bộ vật chất lấp nhét trong các kẽ nứt, hậu quả kéo theo là tăng độ lún và làm biến dạng công trình. Vì vậy, đối với các đập lớn có lẽ nên quyết định xử lý chống thấm cho nền đập ngay trong trường hợp lượng mất nước đơn vị nhỏ hơn 0,01 l/ph.m chứ không phải chỉ khi lớn hơn giá trị này.

7. Tính từ biến của đá và sự suy giảm cường độ của đá yếu, vật chất xi măng trong các kẽ nứt.

Đối với các đập lớn nhưng cột nước nhỏ vấn đề này không đặt ra nhưng với các đập lớn mà có chiều cao lớn vấn đề này cấn được xét đến. Đối với các đập thấp, khi tải trọng đập nhỏ hơn nhiều so với sức chịu tải của đất đá nền, việc kiểm tra ổn định trượt của nền tiến hành bình thường và sẽ không có vấn đề gì. Trong trường hợp là đập lớn, tải trọng thân đập gần đạt đến tải trọng giới hạn của nền và tác dụng trong thời gian lâu dài, sẽ phát sinh tính từ biến trong đất đá nền, gây nguy cơ mất ổn định, trượt mái đập thượng hoặc hạ lưu. Điều đó sẽ càng dễ xảy ra khi nền là đá trầm tích gắn kết yếu, các loại đá đã bị phong hoá không đều, phong hoá dạng tuyến, khi nền là đá cứng nhưng có vất chất xi măng gắn kết trong các kẽ nứt không được tốt. Vì vậy, như đã nói ở mục 1, đối với đập lớn nên tăng cường thí nghiệm hiện trường. Nên thí nghiệm nén tĩnh ở hố móng công trình, ở các hầm thăm dò tại độ sâu đáy hố móng. Khi đã mở hố móng, nên lựa chọn vị trí thí nghiệm sao cho mép bàn nén trùng với mặt kẽ nứt để tạo thế bất lợi nhất

Xem thêm dịch vụ Thí nghiệm nén tĩnh cọc

Thứ Tư, 30 tháng 12, 2015

Giúp nóc nhà cao tầng thành công viên xanh đẹp

Những nóc nhà cao tầng vốn thô cứng chỉ toàn bê tông và các thiết bị điện có thể trở thành không gian thư giãn, thoáng mát cho toàn bộ cư dân khi được khoác “chiếc áo xanh” lên mình.Nóc nhà thường ít được sử dụng, chỉ bố trí bồn nước, hoặc máy lạnh cho khu nhà. Tuy nhiên, các kiến trúc sư đã tận dụng không gian này để tạo nên điểm nhấn quan trọng cho tòa nhà.

Không gian trên nóc được thiết kế y hệt như công viên với thảm cỏ xen cùng cây xanh, bố trí các tiểu cảnh cùng đường đi bộ dạo mát. Ngoài ra, nóc nhà còn được bố trí các ghế đá và khu nghỉ chân có mái che.
Bố trí thảm xanh bên trên giúp tòa nhà tránh được sức nóng trực tiếp của mặt trời, giống như một máy điều hòa không khí tự nhiên.


Đi kèm là hệ thống tưới hợp lý, cung cấp nước vừa đủ cho toàn bộ cây xanh và thảm cỏ. Bên cạnh đó, hệ thống thoát nước cũng được tính toán kỹ để vừa đảm bảo thoát nước cần thiết, vừa tránh làm xói mòn các bề mặt đất được phủ bên trên.

Tuy nhiên việc bố trí các lớp chống thấm rất quan trọng vì nó sẽ đảm bảo tính kỹ thuật, an toàn cho phần mái nhà, tránh bị thấm nước, rễ cây đục, ố bẩn xuống tầng dưới…
Kết hợp với cây xanh có tán cao và mái vòm để tạo thành khu thư giãn cho dân cư hoặc bố trí quán cafe cũng rất hợp lý. Không gian xanh làm “mềm hóa” các khối bê tông thẳng đứng xung quanh.

Thứ Bảy, 26 tháng 12, 2015

Ngắm công trình chung cư độc đáo đạt giải kiến trúc đẹp nhất

Một trong những giải thưởng có uy tín nhất về kiến trúc đã được trao cho một tổ hợp nhà ở có kiến trúc độc đáo tại Singapore. Các giám khảo tại cuộc thi Festival Kiến trúc thế giới có 3 ngày làm việc vô cùng vất vả từ 4-6/11/2015 để chọn ra được công trình có kiến trúc đẹp nhất năm. Khu chung cư có tên Interlace tại Singapore đã vinh dự nhận giải thưởng danh giá này.

Công trình do KTS Ole Scheeren thiết kế rộng 8ha với 31 khối nhà chung cư xếp chồng lên nhau theo hình lục giác với khác khối 6 tầng nhằm đảm bảo có được góc nhìn đẹp ở mọi hướng.


Giữa các khối nhà là 8 giếng trời lớn cho ánh sáng và không khí lưu thông. Đó cũng là khu vực bố trí sân chơi, bể bơi, trồng cây xanh.


"Các tòa nhà đang được xây dựng theo dạng các khối thẳng đứng độc lập, thiếu sự liên kết. Tôi nghĩ dự án này sẽ tạo ra một bước đột phá mới trên quy mô lớn", KTS Scheeren chia sẻ.


Mặt bằng xây dựng là 170.000 m2, với kết cấu đặc biệt của khu nhà, diện tích phủ xanh lên tới 112%. Không gian được phủ xanh một cách đáng kinh ngạc




Xem thêm dịch vụ khoan địa chất và khảo sát địa hình

VIDEO Khoan khảo sát địa chất công trình Liên hệ: 0982 586 141

Dịch vụ Khoan khảo sát địa chất công trình uy tín tại
CÔNG TY CỔ PHẦN KIẾN TRÚC ĐÔ THỊ
VPGD: 12A-07, Licogi13, 164 Khuất Duy tiến, Thanh Xuân, Hà Nội
Hotline: 0982 586 141
Email: hungdunggl@gmail.com
Web: http://tuvankientrucdothi.com
Khoan địa chất: http://tuvankientrucdothi.com/khoan-khao-sat-dia-chat-cong-trinh.html