Thứ Tư, 3 tháng 2, 2016

Khoan khảo sát địa chất công trình hồ chứa

Vấn đề ngập và bán ngập: việc xây dựng hồ chứa nước dẫn đến làm ngập, bán ngập diện tích lớn, trong đó có các khu dân cư các cơ sở kinh tế, các công trình giao thông, văn hóa …. Khi điều tra khảo sát địa chất công trình vùng hồ cần phải làm sáng tỏ các khu vực có thể xảy ra hiện tượng ngập và bán ngập để đề ra giải pháp phòng chống thích hợp.khảo sát địa chát hồ chứa.

Một số vấn đề khoan khảo sát địa chất công trình thường phát sinh khi xây dựng các hồ chứa nước:

Vấn đề ngập và bán ngập: việc xây dựng hồ chứa nước dẫn đến làm ngập, bán ngập diện tích lớn, trong đó có các khu dân cư các cơ sở kinh tế, các công trình giao thông, văn hóa …. Khi điều tra khảo sát địa chất công trình vùng hồ cần phải làm sáng tỏ các khu vực có thể xảy ra hiện tượng ngập và bán ngập để đề ra giải pháp phòng chống thích hợp.khảo sát địa chát hồ chứa
Vấn đề thấm mất nước: khi mực nước hồ dâng cao, tùy theo quan hệ của mực nước hồ với mực nước dưới đất mà hồ có thể cung cấp cho nước dưới đất, có trường hợp nước hồ sẽ thấm qua thung lũng sông bên cạnh gây nên sự mất nước trầm trọng. Trong quá trình khảo sát địa chất cần làm sáng tỏ quan hệ thủy lực của nước hồ ở các thời kỳ khác nhau với nước dưới đất, cũng như cần làm sáng tỏ các con đường thấm mất nước như cacxtơ, đứt gãy.
Vấn đề tái tạo bờ hồ: dưới tác dụng của sóng do gió, bờ hồ bị phá hủy để tạo nên trắc diện cân bằng mới, gây nên hiện tượng tái tạo bờ hồ. Hiện tượng tái tạo bờ hồ gây bồi lắng lòng hồ, phá hủy các công trình xây dựng, các khu dân cư trong khu vực bờ hồ.

Xem thêm dịch vụ làm biển công ty uy tín và làm chữ inox giá rẻ làm biển inox bảo hành dài hạn.

Vấn đề trượt, đá đổ, đá lở: các quá trình và hiện tượng trượt, đá đổ, đá lở có thể xảy ra ở bờ hồ hay các sườn dốc tự nhiên của các đảo. Sự mất ổn định của các sườn dốc hay bờ dốc xảy ra trong khu vực hồ chứa, đặc biệt ở gần đập sẽ gây nên sự bồi lắng lòng hồ, đặc biệt có thể làm phá hủy đập, gây nên những tai họa. Việc điều tra nghiên cứu đcct để đánh giá ổn định các sườn dốc hay bờ dốc trong khu vực hồ chứa cần làm sáng tỏ các đặc điểm địa hình, cấu trúc địa chất, địa chất thủy văn và các đặc tính cơ lý của đất đá.khảo sát địa chất hồ chứa 1
Khảo sát địa chất hồ chứa:
Công tác đo vẽ địa chất công trình tỷ lệ lớn chủ yếu thực hiện trên các khoảnh có khả năng xảy ra các vấn đề bất lợi như bán ngập, thấm mất nước, trượt lở, tái tạo bờ hồ …
Các công tác thăm dò địa vật lý, khoan đào thăm dò được bố trí theo một số tuyến trên các khoảnh nghiên cứu để đánh giá đặc điểm cấu trúc địa chất, mức độ nứt nẻ của đất đá và nghiên cứu đứt gãy.
Công tác lấy mẫu và thí nghiệm trong phòng xác định tính chất thấm ở các khu vực bán ngập và thấm mất nước. Các khu vực có khả năng tái tạo bờ hồ cần lẫy mẫu và thí nghiệm xác định các đặc trưng cơ lý của đất đá.
Thí nghiệm đổ nước trong hố đào và hố khoan được nghiên cứu trong lớp phủ, các thí nghiệm ngoài trường nghiên cứu sức kháng cắt của đất đá được thực hiện tại các vị trí sườn dốc, bờ dốc, bờ hồ có khả năng xảy ra trượt lở và tái tạo… Để có tài liệu cần thiết, có thể tổ chức quan trắc thủy văn, nước dưới đất, trượt trên các sườn dốc, mái dốc
Báo cáo khảo sát địa chất công trình hồ chứa cần làm rõ điều kiện đcct vùng hồ và khả năng phát sinh các vấn đề đcct bất lợi, khoanh các khu vực đó và đưa ra các kiến nghị về giải pháp công trình.

Xem thêm dịch vụ thiết kế nhà dân dụng

Khoan Khảo sát địa chất công trình xây dựng cầu

Khi thiết kế xây dựng cầu thường phát sinh một số vấn đề địa chất công trình sau:
Vấn đề xâm thực của dòng sông ở nền trụ và mố cầu: Việc xây dựng cầu đã làm diện tích dòng chảy tại vị trí xây dựng bị thu hẹp, làm cho tốc độ dòng chảy tăng lên, gây nên hiện tượng xâm thực ở nền trụ và mố cầu. Khi thiết kế độ sâu chân móng trụ và mố cầu, cần xác định được đại lượng xâm thực sâu thêm này để bố trí hợp lý chiều sâu đặt móng đảm bảo an toàn.

Vấn đề ổn định: Khi xây dựng cầu thường xảy ra vấn đề ổn định của trụ và mố cầu và vấn đề ổn định của nền đường dẫn vào cầu. Vấn đề ổn định của nền đường dẫn vào cầu được đánh giá như nền đường đắp xây dựng trên đất yếu. Vấn đề ổn định của trụ và mố cầu bao gồm ổn định lún và ổn định trượt do tác động của dòng chảy vào trụ và mố cầu. Riêng đối với mố cầu làm việc như tường chắn, nên vấn đề ổn định trượt mố cầu do áp lực chủ động của đường đắp phía sau mố gây nên cũng cần được chú ý

Tài liệu khảo sát địa chất là cơ sở để luận chứng cho bản thiết kế kỹ thuật xây dựng cầu như:
Cho phép chọn loại và kết cấu cầu, số lượng trụ và nhịp, xác định loại và kết cấu móng, lớp đặt móng, chiều sâu đặt móng, đánh giá điều kiện ổn định của cầu, xác định điều kiện thi công, chọn giải pháp công nghệ thi công hợp lý, chọn các biện pháp công trình và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan, kể cả việc tính giá thành xây dựng.


Nội dung nghiên cứu phải đánh gía về điều kiện địa chất công trình của phương án tuyến cầu được chọn, xác nhận sự đúng đắn của các kết luận về việc lựa chọn vị trí tuyến cầu. Ngoài ra, phải chính xác hóa đặc điểm đcct của từng vị trí mố và trụ cầu, tại vị trí xây dựng các công trình điều tiết dòng chảy, các công trình bảo vệ bờ … Khi khảo sát địa chất xây dựng cầu cần dự báo và đánh giá quy mô phát triển của các quá trình và hiện tượng địa chất ảnh hưởng đến sự ổn định và làm việc bình thường của cầu.

Đường dẫn: Nhiệm vụ và nội dung nghiên cứu của khu vực đường dẫn vào cầu phụ thuộc vào trường hợp cụ thể. Nếu đường dẫn là đường đào hay đắp thì nội dung nghiên cứu giống như khảo sát để thiết kế đường. Trường hợp đường dẫn là cầu cạn thì việc nghiên cứu thực hiện như đối với cầu, chủ yếu tập trung nghiên cứu điều kiện đcct các trụ và mố

Công tác đo vẽ đcct rất ít khi tiến hành. Vì diện tích đo vẽ rất hẹp nên công tác đo vẽ chủ yếu kết hợp với công tác thăm dò và các công tác khảo sát đcct khác.

Công tác khoan có vai trò quan trọng hàng đầu trong khảo sát đcct. Các hố khoan địa chất thăm dò được bố trí trực tiếp vào vị trí các trụ và mố cầu để xác định chính xác đặc điểm địa tầng và khả năng xây dựng của các lớp đất đá. Trường hợp điều kiện đcct đặc biệt phức tạp có thể tăng số lượng công trình thăm dò. Các công trình thăm dò có thể được bố trí dạng hoa thị trên trụ và mố cầu.

Chiều sâu công trình thăm dò được xác định dựa vào tải trọng cầu tác dụng lên trụ và mố, dựa vào giải pháp móng, điều kiện cấu tạo địa chất và đặc biệt là chiều sâu phát triển cacxtơ.

Công tác lấy mẫu thí nghiệm có ý nghĩa hết sức quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định chất lượng khảo sát đcct. Các mẫu đất đá lưu được xếp đủ vào hộp mẫu lưu và xác định giá trị RQD là chỉ tiêu đánh giá chất lượng đá làm nền công trình.

Công tác thí nghiệm ngoài trời chủ yếu là xuyên tiêu chuẩn (SPT) thực hiện trong quá trình thăm dò. Để đánh giá khả năng biến dạng của đất đá có thể thí nghiệm nén hông trong hố khoan.

Kết quả chỉnh lý tài liệu khảo sát phải lập được các mặt cắt đcct tuyến cầu nghiên cứu, làm sáng tỏ và chính xác địa tầng của các trụ và mố cầu, xác định các giá trị tiêu chuẩn và giá trị tính toán của các đặc trưng cơ lí, bảo đảm các tài liệu cần thiết để thiết kế móng trụ và mố cầu.

Báo cáo khảo sát địa chất xây dựng cầu cần đánh giá được điều kiện ổn định của các móng và trụ cầu, kiến nghị giải pháp móng hợp lý, xác định lớp đặt móng, chiều sâu đặt móng. Kiến nghị giải pháp công trình và công nghệ thi công móng phù hợp với điều kiện đcct.

Đối với nền đường dẫn cần có đánh giá riêng và cung cấp các tài liệu về địa chất công trình để thiết kế tuyến đường.

Xem thêm khảo sát địa chất giao thông và dịch vụ làm biển chữ nổi uy tín bảo hành dài hạn

Khảo sát địa chất công trình đường giao thông

Nét đặc trưng của các công trình đường giao thông là có dạng tuyến, kéo dài qua nhiều vùng có đặc điểm địa hình, địa chất khác nhau. Trên các tuyến đường thường xây dựng nhiều công trình như cầu, cống, các công trình bảo đảm an toàn cho tuyến đường như hệ thống thoát nước, công trình chống trượt, đá đổ, đá lăn … Đặc biệt, trên các tuyến đường sắt xây dựng các hệ thống nhà ga cũng như các công trình phụ trợ khác bảo đảm cho sự hoạt động của hệ thống đường.

Tuyến đường giao thông có thể áp dụng nhiều dạng thiết kế khác nhau như: đường đặt trên nền địa hình tự nhiên, đường đặt trên nền đắp nền đào, nền nửa đào, nửa đắp.

Tuyến đường có thể đi qua nhiều vùng phát triển các quá trình và hiện tượng địa chất như cacxtơ, trượt lở, đá đổ, lầy, có đất nền yếu không thích hợp cho việc xây dựng công trình.

Các vấn đề địa chất công trình đường giao thông: vấn đề ổn định của nền đất yếu, vấn đề ổn định của các bờ đường đắp, đường đào, vấn đề thoát nước mặt, vấn đề xói lở và đặc biệt là vấn đề trượt, đá đổ, đá lở ….

Nội dung thực hiện khoan địa chất

Để đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ của công tác khảo sát địa chất công trình cần thực hiện các công tác khảo sát sau:

– Công tác đo vẽ lộ trình thực hiện trên dải tuyến

– Công tác địa vật lý khi cần làm sáng tỏ một số đặc điểm cấu trúc địa chất, cacxtơ tại một số khu vực xây dựng cầu, hầm…

– Công trình thăm dò là công tác chính có tính quyết định kết quả khảo sát địa chất công trình. Các công trình thăm dò được bố trí theo tim tuyến và các mặt cắt ngang đặc trưng cho từng khu đoạn tuyến đường, vị trí cầu vượt, hệ thống thoát nước … Các mặt cắt ngang phải cho phép thiết kế các mặt cắt nền đường đặc trưng cho từng khu đoạn tuyến.

Tìm hiểu về làm bàn thao tác công nghiệp uy tín

– Công tác lấy mẫu và thí nghiệm trong phòng có vị trí đặc biệt quan trọng, vì nó quyết định rất nhiều chất lượng của tài liệu sử dụng để thiết kế công trình. Các mẫu thí nghiệm đất nguyên trạng và không nguyên trạng được lấy theo từng khu đoạn tuyến, ứng với từng mặt cắt thiết kế đặc trưng, hoặc lấy theo từng khu vực thiết kế nền đường đặc biệt hay xây dựng cầu cống …

– Thí nghiệm ngoài trời: các công tác xuyên thường được bố trí tại các khu vực nền đường phát triển các loại đất đá trầm tích mềm yếu. Thí nghiệm nén hông được bố trí tại các vị trí xây dựng cầu cống. Thí nghiệm cắt mẫu lớn, nén sập, đẩy ngang cột đất có thể sử dụng để nghiên cứu khả năng chống cắt của đất đá trên các sườn dốc hay bờ dốc.

– Quan trắc địa chất công trình để có số liệu cần thiết phục vụ thiết kế kỹ thuật như: quan trắc sự ổn định của sườn dốc, bờ dốc, quan trắc thủy văn và địa chất thủy văn…

– Báo cáo khoan khảo sát địa chất đường giao thông có thể khác nhau tùy trường hợp cụ thể.

+ Đối với các công trình quy mô lớn, cần thành lập bản đồ đcct trên toàn tuyến và tại các khu vực có điều kiện địa chất công trình phức tạp hay vị trí xây dựng các hạng mục công trình phụ trợ của tuyến đường.

+ Lập các mặt cắt địa chất công trình dọc theo tim tuyến và các mặt cắt ngang, đưa ra các mặt cắt ngang đặc trưng nhất cho từng khu đoạn tuyến để có cơ sở thiết kế các mặt cắt nền đường đặc trưng cho khu đoạn tuyến,

+ Lập bảng tổng hợp chỉ tiêu cơ lý đặc trưng cho từng khu vực hay đoạn tuyến nghiên cứu. Đưa ra các giá trị tiêu chuẩn và giá trị tính toán của các đặc trưng cơ lý để tính toán thiết kế theo các mặt cắt nền đường đặc trưng …

+ Báo cáo thuyết minh khảo sát địa chất công trình ngoài việc mô tả theo lý trình (km), cần mô tả riêng cho từng khu vực thiết kế nền đường đặc biệt, khu vực xây dựng các hạng mục công trình phụ trợ hay khu vực phải áp dụng các giải pháp công trình

Khoan khảo sát địa chất dân dụng va công nghiệp

Vấn đề về khả năng chịu tải của đất nền: Khi công trình xây dựng trên các vùng trầm tích có khả năng chịu tải thấp, đất nền sẽ không đáp ứng được điều kiện làm việc bình thường của công trình. Việc đánh giá khả năng chịu tải của đất nền gắn liền với quy mô kết cấu công trình. Kết quả đánh giá khả năng chịu tải của các lớp đất là cơ sở lựa chọn giải pháp kết cấu móng và lớp đặt móng cho công trình.

Khi thiết kế và xây dựng các công trình dân dụng công nghiệp thường nảy sinh một số vấn đề địa chất công trình sau:

Vấn đề về khả năng chịu tải của đất nền: Khi công trình xây dựng trên các vùng trầm tích có khả năng chịu tải thấp, đất nền sẽ không đáp ứng được điều kiện làm việc bình thường của công trình. Việc đánh giá khả năng chịu tải của đất nền gắn liền với quy mô kết cấu công trình. Kết quả đánh giá khả năng chịu tải của các lớp đất là cơ sở lựa chọn giải pháp kết cấu móng và lớp đặt móng cho công trình.

Vấn đề về biến dạng của đất nền: Công trình xây dựng trên đất nền, đặc biệt là đất nền có khả năng chịu tải thấp, thường phát sinh vấn đề biến dạng lún. Biến dạng lún của công trình, nếu vượt quá giới hạn cho phép sẽ làm biến dạng và hư hỏng công trình. Việc đánh giá khả năng biến dạng lún, đặc biệt là lún không đều, có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm kiếm giải pháp kết cấu tốt nhất, bảo đảm sự ổn định lâu dài và làm việc bình thường của công trình.

Các vấn đề liên quan đến điều kiện thi công và sử dụng nền: Các vấn đề này thường gặp trong giai đoạn thi công xây dựng công trình như nước chảy vào hố móng, cản trở quá trình thi công, vấn đề ổn định vách hố móng và ổn định đáy hố móng do tác dụng của nước khi mực áp lực phân bố cao hơn đáy hố móng …

Kết quả khảo sát địa chất dự báo đúng đắn được các vấn đề đcct có thể phát sinh sẽ là cơ sở quan trọng để lựa chọn giải pháp thiết kế cũng như các biện pháp công trình hợp lý.
Vị trí khảo sát: Các công trình thăm dò được bố trí ngay trên chu vi xây dựng và tại các vị trí quan trọng của công trình. Tùy thuộc mức độ phức tạp của điều kiện địa chất công trình mà các công trình thăm dò có thể bố trí theo mạng lưới khác nhau.


Số lượng, vị trí hố khoan khảo sát địa chất : Trường hợp vị trí xây dựng các hạng mục công trình chưa được xác định trên diện tích xây dựng và khi điều kiện địa chất công trình không phức tạp thì có thể bố trí các công trình thăm dò theo mạng lưới và khoảng cách giữa các công trình thăm dò cần được cân nhắc đến vị trí xây dựng công trình tương lai. Trong khu vực xây dựng có bố trí nhiều hạng mục khác nhau, các điểm thăm dò được bố trí tập trung vào diện tích xây dựng của các hạng mục công trình, nhưng cần tạo thành những tuyến nghiên cứu trên toàn bộ diện tích xây dựng. Khoảng cách giữa các công trình thăm dò phụ thuộc mức độ phức tạp của điều kiện địa chất công trình, độ nhạy của công trình với lún không đều và cấp công trình.

Chiều sâu các công trình khảo sát địa chất: được xác định dựa vào chiều sâu đới tác động giữa công trình và môi trường địa chất, trước hết là dựa vào chiều sâu đới chịu nén.

Công tác thí nghiệm ngoài trời: các phương pháp xuyên thường được bố trí xen kẽ công tác khoan khảo sát để phân chia chi tiết địa tầng và cung cấp một số đặc trưng cơ lí của đất nền như khả năng chịu tải, mô đun biến dạng, và xác định độ chặt của các lớp đất rời. Những nội dung này khó có thể giải quyết bằng thí nghiệm trong phòng, do không lấy được mẫu nguyên trạng. Đối với công trình thiết kế cọc ma sát thì tốt nhất là bố trí công tác xuyên. Tài liệu xuyên sử dụng tính toán sức chịu tải của cọc khá hiệu quả. Đặc biệt, căn cứ kết quả xuyên cho phép chọn được lớp và chiều sâu đặt mũi cọc rất tốt. Ngoài ra, tài liệu xuyên sẽ cho phép đánh giá được khả năng thi công cọc rất sát với điều kiện thực tế.

Công tác chỉnh lý tài liệu và viết báo cáo khoan địa chất dân dụng, công nghiệp phục vụ thiết kế kỹ thuật:

Các mặt cắt địa chất công trình theo các tuyến nghiên cứu có tỷ lệ thích hợp;
Bảng tổng hợp các giá trị tiêu chuẩn và giá trị tính toán của các đặc trưng cơ lí của các lớp đất tương ứng phân chia trên mặt cắt đcct;
Hình trụ các hố khoan khảo sát;
Các tài liệu gốc của thí nghiệm trong phòng và ngoài trời;
Kèm theo các tài liệu trên là báo cáo kết quả khảo sát địa chất. Nội dung báo cáo phản ánh điều kiện đcct của diện tích nghiên cứu. Khi điều kiện đcct không đồng nhất và biến đổi mạnh, cần có đánh giá điều kiện đcct và cung cấp số liệu tính toán thiết kế cho tường hạng mục công trình.
Kết quả khảo sát địa chất cần đưa ra các dự báo khả năng phát sinh các vấn đề địa chất công trình bất lợi, kiến nghị giải pháp móng, xác định lớp và chiều sâu đặt móng …

Xem dịch vụ thí nghiệm nén tĩnh cọc

Tiêu chuẩn khoan khảo sát địa chất công trình

Các tiêu chuẩn hiện nay chủ yếu dựa vào kinh nghiệm khảo sát từ đó tùy theo từng lĩnh vực cụ thể mà người ta đặt ra các tiêu chuẩn khảo sát theo từng lĩnh vực riêng biệt. Tuy nhiên có những tiêu chuẩn khảo sát chung đó là các tiêu chuẩn khảo sát ngoài hiện trường và tiêu chuẩn phân tích mẫu đất, đá, nước trong phòng.

Các tiêu chuẩn áp dụng cho công tác khảo sát hiện trường:

(1) TCVN 4419: 1987 – Khảo sát cho Xây dựng. Nguyên tắc cơ bản;

(2) TCVN 9437: 2012 – Khoan địa chất công trình;

(3) TCVN 112:1984 – Hướng dẫn thực hành khảo sát đất xây dựng bằng thiết bị mới (thiết bị do PNUD đầu tư) và sử dụng tài liệu vào thiết kết công trình;

(4) TCVN 9351:2012: Đất xây dựng – Phương pháp thí nghiệm hiện trường – Thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn (SPT).
Các tiêu chuẩn thí nghiệm trong phòng:

(1) TCVN 4195 đến 4202: 2012: Đất xây dựng – Các phương pháp xác định chỉ tiêu cơ lý của đất;

(2) TCVN 4200:2012: Đất xây dựng – Phương pháp xác định tính nén lún trong phòng thí nghiệm;

(3) TCVN 9153:2012: Đất xây dựng – Phương pháp chỉnh lý kết quả thí nghiệm mẫu đất;

(4) TCVN 2683:2012: Đất xây dựng – Phương pháp lấy, bao gói, vận chuyển và bảo quản mẫu;

(5) TCVN 9362:2012: Tiêu chuẩn thiết kế nền nhà và công trình.

Xem thêm dịch vụ in decal giá rẻin đề can tại Hà Đông

(6) TCXD 81 –81: Nước dùng trong xây dựng. Các phương pháp phân tích hóa học:

(7) TCVN 3994 – 85: Nước dùng trong xây dựng. Tiêu chuẩn ăn mòn của môi trường nước đối với bê tông cốt thép:
Tiêu chuẩn khảo sát địa chất dân dụng, công nghiệp:

(1) TCVN 9363:2012 – Khảo sát cho Xây dựng – Khảo sát Địa kỹ thuật cho nhà cao tầng;
Tiêu chuẩn khảo sát công trình thủy lợi:

(1) TCVN 8477 : 2010 – Công trình thủy lợi – yêu cầu về thành phần, khối lượng khảo sát trong các giai đoạn lập dự án và thiết kế

(2) TCVN 9140:2012 – công trình thủy lợi – yêu cầu bảo quản mẫu nõn khoan trong công tác khảo sát

(3) TCVN 9155 : 2012 – Công trình thủy lợi – yêu cầu kỹ thuật khoan máy trong công tác khảo sát

(4) TCVN 9402:2012 – chĩ dẫn kỹ thuật công tác khảo sát cho xây dựng vùng cacxtơ

(5) 14 TCN 196-2006 Khảo sát công trình thủy lợi – Hướng dẫn phương pháp chỉnh lý kết quả thí nghiệm các mẫu đất

(6) 14 TCN 187 – 2006 Kỹ thuật khoan máy trong công tác KS CTTL
Tiêu chuẩn khảo sát địa chất đường giao thông:

(1) 22 TCN 259 – 2000 – Quy định khoan thăm dò địa chất công trình

(2) 22 TCN 263 – 2000 – Quy trình khảo sát đường ô tô

(3) 22 TCN 244-98- Quy trình xử lý đất yếu bằng bấc thấm trong xây dựng nền đường

(4) 22 TCN 171-87- Quy trình KS ĐCCT và thiết kế biện pháp ổn định nền đường vùng có hoạt động trượt, sụt, lở:

(5) 22 TCN 82-85 – Quy trình khoan thăm dò địa chất công trình:

(6) 22 TCN 160-87 – Khảo sát địa kỹ thuật phục vụ cho thiết kế và thi công móng cọc

Xem thêm dịch vụ Khảo sát địa hình Dịch vụ chất lượng uy tín tại BTHOME: Nội thất phòng khách tại Bắc Giang nội thất gia đình tại Bắc Ninhnội thất gia đình tại Bắc Giang Cam kết chất lượng uy tín, thi công nhanh gọn, bảo hành trên 3 năm.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

Những điều chỉnh đô thị quy hoạch phân khu S2, tỷ lệ 1/2000

UBND TP Hà Nội vừa có quyết định phê duyệt điều chỉnh cục bộ quy hoạch phân khu đô thị S2, tỷ lệ 1/2000 (phần quy hoạch sử dụng đất), tại khu đất thuộc ô quy hoạch ký hiệu B.1, xã Kim Chung, huyện Hoài Đức, Hà Nội.

Phối cảnh tổng thể quy hoạch phân khu đô thị S2.

Theo đó, tổng diện tích đất điều chỉnh quy hoạch khoảng 8.275,1m2, trong đó: Diện tích khu 1 khoảng 6.449,7m2; diện tích khu 2 khoảng 1.825,4m2. Khu đất có phía Đông Bắc giáp với Học viện Khoa học Quân sự (Bộ Quốc phòng); phía Đông Nam giáp với khu nhà ở quân đội hiện hữu; phía Tây Nam giáp với khu đất Cty TNHH Vạn Xuân; phía Tây Bắc giáp với đất canh tác xã Kim Chung.

Mục tiêu điều chỉnh phù hợp với chủ trương của Bộ Quốc phòng và UBND TP, tạo điều kiện, đáp ứng nhu cầu khó khăn cho các đối tượng sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng về điều kiện nhà ở; đề xuất giải pháp về quy hoạch kiến trúc, hình thành khu nhà ở đồng bộ về không gian kiến trúc cảnh quan hài hòa với khu vực lân cận.


Xây dựng đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, khớp nối khu vực xây dựng mới và khu vực hiện có, các dự án đang triển khai xây dựng, phù hợp quy hoạch phân khu đô thị S2, tuân thủ Quy chuẩn xây dựng Việt Nam và Tiêu chuẩn thiết kế chuyên ngành; làm cơ sở để chủ đầu tư triển khai nghiên cứu lập dự án đầu tư xây dựng theo quy định và quản lý đầu tư xây dựng theo quy định tại khu đất nêu trên theo các quy định hiện hành.

Việc điều chỉnh phải đảm bảo khớp nối đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, không gian quy hoạch kiến trúc cảnh quan trong khu vực, các chỉ tiêu quy hoạch kiến trúc phù hợp với Quy hoạch phân khu đô thị S2 được duyệt.

Các nội dung khác không thuộc nội dung điều chỉnh nêu trên giữ nguyên theo Quy hoạch phân khu đô thị S2, tỷ lệ 1/5.000 đã được UBND TP phê duyệt và các quyết định, quy định khác có liên quan.

Chi tiết về dịch vụ khoan khảo sát địa chất công trình

Một số vấn đề về khảo sát địa chất công trình khi xây dựng đập lớn

Đập lớn là đập mà khi xảy ra sự cố sẽ gây thiệt hại lớn, vì vậy việc khảo sát, thiết kế, thi công cần phải hết sức cẩn thận. Tác giả khuyến cáo, ngoài việc tuân thủ quy phạm hiện hành, để tăng mức độ an toàn cần lưu ý thêm bảy vấn đề được nêu chi tiết trong bài viết.

Một số vấn đề về khảo sát địa chất công trình khi xây dựng đập lớn

PGS.TS. Phạm Hữu Sy - Đại học Thuỷ lợi

Tóm tắt: Nói chung đập lớn là đập mà khi xảy ra sự cố sẽ gây thiệt hại lớn, vì vậy việc khảo sát, thiết kế, thi công cần phải hết sức cẩn thận để hạn chế khả năng xảy ra sự cố. Cho đến nay ở Việt Nam chưa có quy phạm khảo sát địa chất dành riêng cho đập lớn. Tác giả khuyến cáo, ngoài việc tuân thủ quy phạm hiện hành về khảo sát địa chất công trình cho xây dựng công trình thuỷ lợi, để tăng mức độ an toàn cho công trình cần lưu ý đến 7 vấn đề mà trong bài báo đã trình bày tương đối chi tiết, đó là các vấn đề: áp dụng kết hợp nhiều phương pháp khảo sát; độ sâu khảo sát nên đạt đến giá trị lượng mất nước đơn vị nhỏ hơn 0,01 l/ph.m khi thí nghiệm ép nước trong khi khoan; phạm vi đo vẽ địa chất công trình nên mở rộng hơn quy định; chú ý đến động đất kích thích do xây dựng hồ chứa; ổn định mái hố móng do giản ứng suất; ổn định thấm do cột nước cao và vấn đề từ biến của đá, đặc biệt là của vật chất gắn kết trong kẽ nứt của đá.


Khoan địa chất công trình thủy điện lớn

Vấn đề "đập lớn" ở Việt Nam mới chỉ được quan tâm gần đây. Hội đập lớn ViệtNam mới chỉ được thành lập năm 2004. Cho đến nay, định nghĩa "đập lớn" vẫn chưa được thống nhất. Theo cách hiểu thông thường, đập lớn phải là đập cấp I, cấp II, tức là lớn về quy mô (chiều cao đập và thể tích trữ nước) mà khi xảy ra sự cố gây thiệt hại lớn về kinh tế và con người. Tuy nhiên, cũng có người cho rằng có những đập không lớn về quy mô nhưng sau đập là các công trình trọng điểm quốc gia mà khi xảy ra sự cố đập gây thiệt hại lớn cho Nhà nước thì cũng phải được xếp vào loại đập lớn. Như vậy, các cách hiểu có thể khác nhau về quy mô công trình nhưng đều đồng nhất với nhau về mức độ thiệt hại do chúng gây ra. Vì vậy, vấn đề khảo sát địa chất công trình mà bài báo này đặt ra ở đây không chỉ liên quan đến quy mô công trình mà là các vấn đề chung cần xem xét lưu ý khi tiến hành khảo sát để bảo đảm tăng độ an toàn cho công trình.

Trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, công trình lớn được hiểu ngay là nhà cao tầng. Tuy chưa có một văn bản chính thức nào định nghĩa cao bao nhiêu thì được gọi là nhà cao tầng nhưng thông thường được hiểu phổ biến là từ 8 tầng trở lên và đã có một tiêu chuẩn ngành về khảo sát địa chất công trình cho xây dựng nhà cao tầng, đó là tiêu chuẩn TCXD 194:1997 Nhà cao tầng - Công tác khảo sát địa kỹ thuật.

Trong lĩnh vực thuỷ lợi - thuỷ điện, cho đến nay như đã nói, ngay cả thuật ngữ cũng chưa thống nhất nên chưa có một tiêu chuẩn quy phạm nào quy định công tác khảo sát địa chất công trình cho xây dựng đập lớn. Như vậy, rõ ràng, khi lập đề cương và thực hiện công tác khảo sát địa chất công trình cho xây dựng đập lớn chúng ta vẫn phải tuân thủ quy phạm hiện hành "Tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000 - Thành phần, nội dung và khối lượng khảo sát địa chất trong các giai đoạn lập dự án và thiết kế công trình thuỷ lợi", thu thập đủ số liệu để kỹ sư thiết kế tính toán lún, ổn định trượt và ổn định thấm, tuy nhiên chúng tôi cho rằng nên lưu ý thêm một số vấn đề sau đây:

1. Về áp dụng các phương pháp khảo sát

Các phương pháp khảo sát địa chất công trình để thu thập thông tin về các điều kiện địa chất công trình thông thường bao gồm:

- Đo vẽ địa chất công trình

- Khoan, đào thăm dò

- Thăm dò địa vật lý

- Thí nghiệm hiện trường (CPT, SPT, xuyên động, nén hông lổ khoan, cắt, nén trong hố đào, đổ nước, hút nước, ép nước trong hố khoan,...)

- Thí nghiệm trong phòng.

Khi khảo sát địa chất cho các công trình thông thường có thể chỉ áp dụng một hoặc hai phương pháp khảo sát nhưng đối với các đập lớn, nên kết hợp nhiều phương pháp để có kết quả bổ sung cho nhau, kiểm tra lẫn nhau. Nên tăng cường thí nghiệm hiện trường và trong phương pháp này nên thực hiện kết hợp nhiều loại thí nghiệm, ví dụ, nén tĩnh với nén hông lổ khoan; xuyên tĩnh với SPT,.... Khi các kết quả khảo sát thu được từ các phương pháp khảo sát khác nhau mà vênh nhau chúng ta nên phân tích kỹ lưỡng để lựa chọn kết quả hợp lý. Ví dụ, khi áp dụng đồng thời cả khoan, xuyên tĩnh, địa vật lý điện và địa chấn để xác định địa tầng mà kết quả không thật phù hợp, hãy phân tích lịch sử phát triển địa chất, các quy luật địa chất để phân lớp. Khi áp dụng đồng thời cả thí nghiệm trong phòng và hiện trường để xác định các tính chất cơ lý của đất mà không phù hợp nhau, hãy kết hợp phân tích nguồn gốc hình thành đất để lựa chọn. Chúng tôi có trao đổi với một số chuyên gia thiết kế, một số người thích các kỹ sư địa chất công trình đánh thấp các chỉ tiêu xuống để thiết kế cho an toàn. Chúng tôi nói rằng không phải lúc nào điều đó cũng đúng. ở đây chúng ta không bàn về cơ chế thẩm tra, thẩm định mà chỉ nói thuần tuý về góc độ chuyên môn. Đối với nhiều trường hợp, sau khi có kết quả thí nghiệm mẫu, khi cung cấp cho thiết kế thường đánh thấp xuống thì an toàn hơn nhưng cũng có trường hợp phản tác dụng. Ví dụ, đối với thí nghiệm đất đắp đập. Khi thiết kế với chỉ tiêu thí nghiệm thực, đất trong thân đập sẽ được đầm đủ độ chặt tối đa, sẽ hạn chế khả năng trương nở khi hồ tích nước. Ngược lại, khi người kỹ sư địa chất cung cấp chỉ tiêu gk nhỏ hơn chỉ tiêu thí nghiệm thực để thiết kế, thi công sẽ chóng đạt yêu cầu nhưng thực tế đất trong thân đập chưa đủ độ chặt tối đa sẽ phát huy trương nở khi tiếp xúc với nước. Đã có công trình nghiên cứu để chứng minh điều đó. Đối với đất nền cũng vậy, khi đào hố móng là đã bóc đi một lượng đất nhất định, tức là đã làm giảm tải ở độ sâu đặt móng. Tải trọng công trình thiết kế có "trách nhiệm" bù lại phần đất đã bóc đi. Nếu lấy nhỏ giá trị gtn của đất nền, trong trường hợp đất nền có tính trương nở có thể dẫn đến thiết kế sai làm nứt công trình. 18/24 công trình trên cùng một quả đồi đất đỏ basalt ở Hướng Hoá - Quảng Trị mà chúng tôi quan sát được đã chứng tỏ điều đó. Nhà càng nhẹ càng bị nứt nhiều.

2. Độ sâu khảo sát

Theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000, độ sâu các công trình thăm dò cho công trình đầu mối ứng với từng giai đoạn khảo sát như sau:

Tiền khả thi

(2/3¸1)H, nếu gặp đá nguyên khối thì sâu vào 2-5m

Nghiên cứu khả thi

- Tới lớp có khả năng làm nền công trình mà dưới tác dụng của công trình không làm ảnh hưởng tới sự thay đổi trạng thái của chính lớp đất đá nền đó.

- Xác định được giới hạn trên của tầng cách nước (k< 5¸10 lần của lớp trên nó).

-(2/3¸1)H, trường hợp đặc biệt có thể sâu hơn.

Thiết kế kỹ thuật

- Đối với đập bê tông: khoan vào đá phong hoá nhẹ và không quá 1,5 H.

- Đối với đập không phải là đá: sâu vào phong hoá vừa 1¸3m, các hố tại tim tuyến sâu (2/3¸1)H.

Bản vẽ thi công

Như trong giai đoạn thiết kế kỹ thuật

Đối với giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, khi mà chưa biết địa tầng của khu vực thì xác định độ sâu thăm dò theo kinh nghiệm (2/3¸1)H là hợp lý nhưng đối với các giai đoạn sau, khi đã biết địa tầng thì nên căn cứ vào địa tầng, lượng mất nước đơn vị và mức độ phát triển của các kẽ nứt kiến tạo (nếu có). Thông thường khi khoan ở vị trí dự kiến xây dựng đập bao giờ cũng đồng thời thí nghiệm ép nước trong hố khoan. Vậy thì đối với các giai đoạn sau, nên khoan đến độ sâu mà lượng mất nước đợn vị nhỏ hơn 0,01 l/ph.m liên tục trong 3 đoạn ép (mỗi đoạn ép 5m) thì dừng. Đập lớn trong nhiều trường hợp thường liên quan với cột nước lớn. Nếu quy định (2/3¸1)H có khi không kinh tế nếu nền là đá macma liền khối ít nứt nẻ hoặc không an toàn nếu là đá trầm tích xen kẹp lớp yếu trong những vùng chịu vận động kiến tạo mạnh trong quá khứ. Ngoài ra, khi nền đập có đứt gãy kiến tạo cắt qua và đã có hố khoan bắt gặp ở độ sâu nào đó thì nhất thiết phải nghiên cứu kỹ đới phá huỷ hoặc chiều dài gặp bùn đoạn tầng, căn cứ vào chiều dài bắt gặp và góc nghiêng để quy đổi chiều rộng của đứt gãy. Những thông số này rất quan trọng khi phân tích dự báo khả năng phát sinh động đất kích thích mà sẽ đề cập thêm dưới đây.

Ngoài điều quy định độ sâu (2/3¸1)H, các điều quy định khác đều không rõ ràng, ví dụ, "Tới lớp có khả năng làm nền công trình mà dưới tác dụng của công trình không làm ảnh hưởng tới sự thay đổi trạng thái của chính lớp đất đá nền đó". Người kỹ sư địa chất công trình không phải là nhà thiết kế, không thể tính để kiểm tra khả năng ảnh hưởng của công trình tới sự thay đổi của nền, càng không thể tính ở hiện trường trong thời gian đang khoan để có thể cho dừng khoan được hay chưa. Điều đó chỉ có thể nhận định cảm tính khi nền đá đã chuyển sang một loại cứng hơn hẳn những lớp đã khoan qua. Khi giám sát khoan cho nhà máy xi măng Nghi Sơn, chúng tôi đã gặp trường hợp hố khoan xâm nhập vào đá liền khối liên tục 5m không có một kẽ nứt nào nhưng sau đó lại tiếp tục gặp bùn vì đó chỉ là một khối đá lăn. Nếu quy định khoan vào đá phong hoá vừa 1¸3m trong trường hợp này thật là nguy hiểm.

3. Phạm vi đo vẽ địa chất công trình

Theo tiêu chuẩn ngành 14 TCN 115-2000, phạm vi đo vẽ địa chất công trình đối với hồ chứa và đập dâng trong các giai đoạn khảo sát như sau:

Các số liệu 2H, 4H về phía thượng, hạ lưu và 1H về phía 2 vai đập là dựa trên cơ sở kinh nghiệm tổng kết nhiều năm, từ nhiều công trình. Cho đến nay, cũng chưa có cơ sở nào để có thể thay đổi các mức định lượng phạm vi đo vẽ nêu trên nhưng chúng tôi cho rằng, đối với đập lớn, với quan điểm tăng mức độ an toàn để giảm nguy cơ tai biến nên mở rộng phạm vi đo vẽ vì rằng ngoài mục đích là để phát hiện sớm các khối trượt, nguy cơ lũ quét nó còn giúp đánh giá khả năng mất nước qua các lũng sông bên cạnh vì khi cao trình mực nước dâng lên cao tức là rút ngắn quảng đường thấm sang lũng sông bên cạnh.

4. Vấn đề động đất.

Động đất là một tai biến địa chất mà cho đến nay chưa thể dự báo được một cách chính xác cả về cường độ, vị trí và thời điểm, vì vậy, rất nguy hiểm đối với xây dựng công trình nói chung, hồ chứa nói riêng và đặc biệt đối với các đập lớn. Không những vậy, những năm gần đây người ta phát hiện ra rằng việc xây dựng hồ chứa có thể gây ra động đất (thường được gọi là động đất kích thích). Khi hồ chứa Koyna (ấn độ) tích nước, các trận động đất nông cục bộ đã xảy ra thường xuyên ở vùng mà trước đây hầu như không có chấn động. Sau 5 năm hồ này tích nước, một trận động đất 6,5 độ đã xảy ra, giết chết 177 người và bị thương hơn 2000 người. Người ta đã quan sát được rằng các cơn địa chấn tăng lên theo mùa tăng của mực nước hồ. Như vậy, rõ ràng là việc xây dựng hồ chứa có thể gây ra động đất và động đất có thể tác động trở lại, gây phá huỷ đập và gây nên tai hoạ lớn. Trong khi đó từ trước đến nay, khi khảo sát địa chất, kỹ sư địa chất chỉ căn cứ vào bản đồ phân vùng địa chấn để cung cấp cho nhà thiết kế cấp động đất dự báo của vùng. Người nào cẩn thận hơn, có thể căn cứ thêm vào bản đồ kiến tạo để phân tích thêm một vài thông tin. Vấn đề động đất kích thích đang còn nhiều tranh luận vì rằng ứng suất tăng thêm do trọng lượng cột nước gây ra tại độ sâu phát sinh địa chấn rất không đáng kể nhưng động đất vẫn xảy ra nhưng nói chung khi xây dựng đập lớn, vấn đề xác định cấp động đất để đưa vào tổ hợp lực khi tính toán thiết kế không nên đơn thuần chỉ căn cứ vào bản đồ địa chấn như trước đây.

Động đất còn nguy hiểm hơn đối với trường hợp nền đập có cát. Thông thường khi phải thiết kế đập ở những nơi có lớp bồi tích sông quá dày, người ta chỉ bóc bỏ một phần, phần còn lại chỉ xử lý chống thấm. Khi xảy ra động đất, dưới tác dụng của sóng động đất cát sẽ chuyển sạng trạng thái "hoá lỏng", mất khả năng chịu tải hoàn toàn và đập sẽ bị vỡ.

5. Vấn đề ổn định mái hố móng.

Đập lớn trong nhiều trường hợp là đập cao và đặt trên nền đá. Vì vậy, hố móng thường phải sâu và thời gian phải thi công các công việc trong hố móng cũng lâu hơn. Khi ta bóc đi một khối lượng đất lớn tạo nên một hố lớn, sẽ xảy ra tình trạng giản ứng suất của đất đá ở hai bên bờ. Kỹ sư thiết kế chỉ căn cứ vào các chỉ tiêu cơ lý của đất đá khi khảo sát tức là ở trạng thái độ chặt tự nhiên để thiết kế mái hố móng bảo đảm ổn định nhưng thực tế do quá trình giản ứng suất, các chỉ tiêu g, j, C đều giảm và mái hố móng có thể bị trượt. Đối với các hố móng sâu, mái hố móng càng dễ mất ổn định khi được cấu tạo bởi đá trầm tích có thế nằm bất lợi (đổ ra ngoài) và có xen kẹp các lớp sét kết mỏng.

6. Vấn đề ổn định thấm.

Đập lớn thường có tuổi thọ thiết lế lâu dài. Với những đập lớn đồng thời có cột nước lớn cần phải xem xét khả năng phát triển quá trình xói ngầm, ngay cả trong trường hợp xây dựng trên nền đá. Chúng ta biết rằng xói ngầm là một quá trình tăng tiến. Dưới tác dụng của cột nước thuỷ lực lớn trong thời gian lâu dài, quá trình xói ngầm có thể đạt đến mức nguy hiểm, rửa sạch toàn bộ vật chất lấp nhét trong các kẽ nứt, hậu quả kéo theo là tăng độ lún và làm biến dạng công trình. Vì vậy, đối với các đập lớn có lẽ nên quyết định xử lý chống thấm cho nền đập ngay trong trường hợp lượng mất nước đơn vị nhỏ hơn 0,01 l/ph.m chứ không phải chỉ khi lớn hơn giá trị này.

7. Tính từ biến của đá và sự suy giảm cường độ của đá yếu, vật chất xi măng trong các kẽ nứt.

Đối với các đập lớn nhưng cột nước nhỏ vấn đề này không đặt ra nhưng với các đập lớn mà có chiều cao lớn vấn đề này cấn được xét đến. Đối với các đập thấp, khi tải trọng đập nhỏ hơn nhiều so với sức chịu tải của đất đá nền, việc kiểm tra ổn định trượt của nền tiến hành bình thường và sẽ không có vấn đề gì. Trong trường hợp là đập lớn, tải trọng thân đập gần đạt đến tải trọng giới hạn của nền và tác dụng trong thời gian lâu dài, sẽ phát sinh tính từ biến trong đất đá nền, gây nguy cơ mất ổn định, trượt mái đập thượng hoặc hạ lưu. Điều đó sẽ càng dễ xảy ra khi nền là đá trầm tích gắn kết yếu, các loại đá đã bị phong hoá không đều, phong hoá dạng tuyến, khi nền là đá cứng nhưng có vất chất xi măng gắn kết trong các kẽ nứt không được tốt. Vì vậy, như đã nói ở mục 1, đối với đập lớn nên tăng cường thí nghiệm hiện trường. Nên thí nghiệm nén tĩnh ở hố móng công trình, ở các hầm thăm dò tại độ sâu đáy hố móng. Khi đã mở hố móng, nên lựa chọn vị trí thí nghiệm sao cho mép bàn nén trùng với mặt kẽ nứt để tạo thế bất lợi nhất

Xem thêm dịch vụ Thí nghiệm nén tĩnh cọc